Thursday, September 2, 2010

NGÀN NĂM GƯƠNG CŨ


1.- RỒNG BAY CÁCH ĐÂY MỘT NGÀN NĂM
Sau khi đảo chánh, lật đổ nhà Tiền Lê vào cuối năm 1009 (kỷ dậu), Lý Công Uẩn lên ngôi vua năm 1010 (canh tuất), lấy niên hiệu là Lý Thái Tổ (trị vì 1010-1028), lập ra nhà Lý (1010-1225). Việc đầu tiên của Lý Thái Tổ là quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, và đổi tên là Thăng Long vào tháng 7 năm canh dần.
Việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La được Lý Thái Tổ giải thích như sau: “Ngày xưa, nhà Thương [Trung Hoa, 1783-1123 TCN] đến đời Bàn Canh [vua Thương thứ 17, 1401-1374 TCN] năm lần dời đô, nhà Châu [Trung Hoa, 1134-256 TCN] đến đời Thành Vương [vua Châu thứ 3, 1115-1079] ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu? Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ của Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương [Cao Biền], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng nầy mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở...”( Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, 1998, tr. 241.)
Nói như thế, nhưng quyết định dời đô của Lý Thái Tổ bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa hơn là chiếu chỉ đã viết. Vùng Hoa Lư là địa bàn sinh hoạt của đại gia tộc nhà Tiền Lê. Lý Thái Tổ lật đổ nhà Tiền Lê và cướp chính quyền. Cuộc đảo chánh bề ngoài xem ra êm ái, ít được sử sách ghi lại chi tiết. Có thể vì “lịch sử thuộc về kẻ chiến thắng”, vua quan nhà Lý không muốn nhắc đến việc nầy, nên đời sau không biết mà ghi lại. Tuy nhiên một đại gia tộc như nhà Tiền Lê, với khoảng 10 hoàng tử đã từng tranh quyền với nhau, hoàn toàn bị tiêu diệt, ắt hẳn phải xảy ra một cuộc tranh chấp rất gay gắt. Có thể Lý Thái Tổ lo ngại thế lực còn lại của nhà Tiền Lê, hoặc dư âm của cuộc đảo chánh, không muốn ở lại địa bàn còn nhiều ảnh hưởng của triều đại trước.
Thứ đến, thành Đại La nằm gần Bắc Ninh, nơi xuất phát của Lý Thái Tổ và quân sư của ông là thiền sư Vạn Hạnh. Bắc Ninh là chiếc nôi của Phật giáo nước ta, nơi từ đầu Công nguyên có thành Luy Lâu (cách Hà Nội ngày nay 20km), được xem là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước Việt, cũng là nơi có chùa Pháp Vân (chùa Dâu) được thành lập từ thế kỷ thứ 6. Các thiền sư Phật giáo là những người hậu thuẫn mạnh mẽ cho Lý Thái Tổ. Do những lẽ đó, Lý Thái Tổ mới quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long,
Thành Đại La (Thăng Long) được ưu điểm hơn thành Hoa Lư ở vị trí trung tâm nước ta lúc đó, nằm trên sông Hồng, dễ giao thông liên lạc, nhưng về địa lý chính trị, trong thế đối kháng với Trung Quốc thời bấy giờ, thì thành Đại La không lợi thế bằng thành Hoa Lư.
Hoa Lư ở xa biên giới Trung Quốc hơn Đại La, đường sá lúc bấy giờ đi lại khó khăn, nên người Trung Quốc khó tấn công hơn. Có thể chính vì Đại La gần Trung Quốc, dễ giao thông liên lạc với Trung Quốc, nên nhà cầm quyền Trung Quốc chọn Đại La làm thủ phủ của Giao Châu (cổ Việt) do họ đô hộ. Cũng có thể chính vì thế, mà nhà Đinh, và nhà Tiền Lê bỏ Cổ Loa (Đông Anh, Phúc Yên), kinh đô của Ngô Quyền, gần Đại La và gần Trung Quốc, mà chọn Hoa Lư ở Ninh Bình làm thủ đô, xa biên giới Trung Quốc hơn, nhằm tránh áp lực tấn công của Trung Quốc.
Để thu hút quần chúng, lúc đó còn nhiều mê tín dị đoan, Lý Thái Tổ tạo ra huyền thoại rằng khi nhà vua đi thuyền đến Đại La, có rồng xuất hiện trên bầu trời báo điềm lành, nên nhà vua cho đổi tên Đại La thành Thăng Long (rồng bay). Đến năm 1014 (giáp dần) Lý Thái Tổ cho xây thành Thăng Long bằng đất, ngay trên vị trí của thành Đại La cũ.
2.- KINH NGHIỆM NGÀN NĂM
Kể từ khi Lý Thái Tổ chọn Đại La làm kinh đô và đổi tên thành Thăng Long, tính cho đến ngày nay (2010), thành Thăng Long được một ngàn năm chẳn. Vì vậy, năm nay, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN) quyết định tổ chức lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long.
Thông thường, kỷ niệm một người hay một sự kiện gì, là để tưởng nhớ công ơn người xưa hay hay những bài học từ chuyện xưa tích cũ, để từ đó rút ra những kinh nghiệm ứng dụng vào việc ứng xử ngày nay. Riêng thành Thăng Long, trong một ngàn năm qua, Thăng Long đã chia sẻ đời sống với dân tộc Việt, thăng trầm theo sự thăng trầm của lịch sử Việt, và đã để lại những kinh nghiệm thật là quý báu.
Kinh nghiệm đầu tiên, dầu Thăng Long là kinh đô, được nhà cầm quyền Việt phòng thủ chặt chẽ, nhưng cũng đã bị ngoại bang tấn công và chiếm đóng nhiều lần. Đó là các nước Trung Quốc, Chiêm Thành và Pháp. Trong các nước nầy, nước tấn công và chiếm đóng Thăng Long nhiều lần nhất là Trung Quốc.
Kinh nghiệm thứ hai là bất cứ nhà cầm quyền Trung Quốc nào cũng đều muốn tiến quân chiếm nước Việt, vừa để mở rộng biên giới, vừa để tìm đường xuống Đông Nam Á. Vì vậy, bất cứ nhà cầm quyền Trung Quốc nào cũng lợi dụng cơ hội nước Việt suy yếu, tranh chấp nội bộ, hay xảy ra thay đổi triều đại, Trung Quốc liền chụp lấy thời cơ, đem quân sang tấn công nước ta.
Kinh nghiệm thứ ba là những cuộc xâm lăng bằng bạo lực vũ bảo, thì theo Đức Trần Hưng Đạo dễ chống đỡ hơn những cuộc xâm lăng theo kiểu tằm ăn dâu. Trước khi Đức Trần Hưng Đạo từ trần năm 1300, vua Trần Anh Tông (trị vì 1293-1314) đến thăm và hỏi ý kiến phải làm sao nếu quân Nguyên trở qua lần nữa? Trần Hưng Đạo đã dặn dò vua Anh Tông như sau: "Đại khái nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binhpháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn đúng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha với con thì mới dùng được. Vả lại khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.”.(Toàn thư, bản dịch tập 2, sđd. tr. 79.)
Kinh nghiệm thứ tư là những cuộc xâm lăng nhằm mục đích quân sự hay kinh tế không nguy hiểm bằng những cuộc xâm lăng nhằm tiêu diệt văn hóa Việt để đồng hóa dân tộc Việt. Những cuộc xâm lăng không tiếng súng bằng văn hóa ảnh hưỏng lâu năm trong đời sống dân tộc. Tiêu biểu cho loại nầy là cuộc xâm lăng của nhà Minh vào thế kỷ 15. Sau khi chiếm nước ta vào năm 1407, các tướng nhà Minh chẳng những vơ vét của cải, vàng ngọc, mà còn bắt giới trí thức cũng như nghệ nhân người Việt đem về Trung Quốc, tịch thu và chở về Trung Quốc hầu như toàn bộ sách vở nước Việt đã có từ thời Hồ Quý Ly trở về trước. Đó là sách của các tác giả sau đây: Lý Thái Tông (Hình thư), Trần Thái Tông (Hình luật, Quốc triều thông lễ, Kiến Trung thường lễ, Khóa hư tập, Ngự thi), Trần Thánh Tông (Di hậu lục, Cờ cừu lục, Thi tập), Trần Nhân Tông (Trung hưng thực lục, Thi tập), Trần Anh Tông (Thủy vân tùy bút), Trần Minh Tông (Thi tập), Trần Dụ Tông (Trần triều đại điển), Trần Nghệ Tông (Bảo hòa điện dư bút thi tập), Trần Hưng Đạo (Binh gia yếu lược, Vạn Kiếp bí truyền), Chu Văn Trinh tức Chu Văn An (Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi), Trần Quốc Toại (Sầm lâu tập), Trần Quang Khải (Lạc đạo tập), Trần Nguyên Đán (Băng Hồ ngọc hác tập), Nguyễn Trung Ngạn (Giới Hiên thi tập), Phạm Sư Mạnh (Giáp thạch tập), Trần Nguyên Đào (Cúc Đường di thảo), Hồ Tông Thốc tức Hồ Tông Vụ (Thảo nhàn hiệu tần, Việt nam thế chí, Việt sử cương mục), Lê Văn Hưu (Đại Việt sử ký), Nguyễn Phi Khanh (Nhị Khê thi tập), Hàn Thuyên (Phi sa tập), Lý Tế Xuyên (Việt điện u linh tập) ...
Cuối cùng, Trung Quốc là nước lân bang, ở ngay sát phía bắc nước ta, trong khi Pháp là một nước ở xa. Người Trung Quốc và người Việt Nam có những điểm gần nhau về chủng tộc cũng như về văn hóa, đời sống. Vì vậy, những cuộc xâm lăng của Trung Quốc nguy hiểm hơn cuộc xâm lăng của Pháp vì Pháp có thể bóc lột khai thác dân tộc Việt một thời gian, nhưng người Pháp khác chủng tộc, khác văn hóa, khác môi trường sống, người Pháp đến rồi đi, không ở lại vĩnh viễn ở nước ta như người Trung Quốc.

3. NGÀN NĂM GƯƠNG CŨ SOI KIM CỔ
Bà Huyện Thanh Quan, vào đầu thế kỷ 19, khi nhà Nguyễn dời đô từ Thăng Long vào Phú Xuân, đã ngậm ngùi thương nhớ cố đô trong bài “Thăng Long thành hoài cổ” như sau: “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường, / Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. / Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, / Nền cũ lâu đài bóng tịch dương. / Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,/ Nước còn cau mặt với tang thương./ Ngàn năm gương cũ soi kim cổ, / Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.”
Nếu Thăng Long là tấm gương mà Bà Huyện Thanh Quan mô tả: “Ngàn năm gương cũ soi kim cổ”, thì tấm gương đó đã ẩn chứa biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ đã hy sinh vì dân tộc, nhưng đồng thời tấm gương đó cũng phản chiếu rất đầy đủ những kẻ phản quốc hại dân, nhất là trong thời hiện đại, kể từ khi xuất hiện đảng CSVN.
Trước hết, theo sử sách, Lý Thái Tổ dời đô đến Thăng Long sau một cuộc đảo chánh và tuyên chiếu đời đô, nói rõ nguyên nhân vì sao nhà vua dời đô. Năm 1945, Hồ Chí Minh cũng dời đô từ Huế ra Hà Nội, cũng sau một cuộc đảo chánh. Hồ Chí Minh không có chiếu dời đô, mà có bản “Tuyên ngôn độc lập”. “Tuyên ngôn độc lập” nói rõ lý do đảo chánh, kết án thực dân Pháp.
Những lời kết án nầy lại chính là lời báo trước chủ trương chính sách của CSVN cho đến ngày nay. Hãy trích vài câu trong bản ‘Tuyên ngôn: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào….Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn, để làm cho nòi giống ta suy nhược…Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.”
Chữ “chúng” trong bản “Tuyên ngôn” dùng để chỉ người Pháp. Tuy nhiên, ứng dụng những câu trên trong bản tuyên ngôn vào hoàn cảnh ngày nay, chủ từ trong những câu trên không ai khác hơn là CSVN: "không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào…. nhà tù nhiều hơn trường học, thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi, tắm các cuộc khởi nghĩa trong những bể máu, thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện [ma túy], rượu cồn [nhậu khắp n ước], để làm cho nòi giống ta suy nhược… cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệ, giữ độc quyền in giấy bạ [Ngân hàng nhà nước Việt Nam], đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý ...”
Nếu có một người nào nghịch ngợm, viết lại các câu nầy trong bản Tuyên ngôn do chính Hồ Chí Minh viết và đọc, nhưng đừng ghi xuất xứ, rồi gởi cho nhà cầm quyền CSVN hiện nay, người đó sẽ không khỏi bị công an CS bắt giữ ngay, giống như bắt giữ những người mang 6 chữ vàng HS-TS-VN (Hoàng Sa-Trưòng Sa-ViệtNam).
Trở lại chuyện Lý Thái Tổ dời đô. Nhà vua dời đô vào tháng 7 âm lịch. Nhà cầm quyền CSVN hiện nay ở Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày 1-10-2010, tức ngày 24-8 năm canh dần (âm lịch). Trong lịch sử Việt Nam, ngày 1-10 không ghi dấu bất cứ một sự kiện quan trọng nào của đất nước. Trong lịch sử thế giới, ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tức 1-10 là ngày quốc khánh của Cộng sản Trung Quốc.
Tổ chức lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày quốc khánh Trung Quốc, nhà cầm quyền CSVN làm cho mọi người cảm giác là nhà cầm quyền CSVN muốn cùng góp vui với Trung Quốc nhân quốc khánh Trung Quốc, trong khi kinh nghiệm ngàn năm Thăng Long cho thấy Trung Quốc là nước lớn luôn luôn tìm cơ hội tấn công, chiếm đóng và thống trị Thăng Long, nghĩa là nhà cầm quyền Trung Quốc là kẻ thù số một của Thăng Long.
Sở dĩ mọi người có cảm giác như vậy vì quan hệ mật thiết giữa đảng CSVN và đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) trong 80 năm qua, từ khi Hồ Chí Minh vâng lệnh Đệ tam Quốc tế Cộng Sản thành lập đảng CSVN tại Hồng Kông ngày 6-1-1930. Từ đó, đảng CSVN phát triển dưới ô dù của đảng CSTQ, nhất là từ năm 1950, khi Hồ Chí Minh cầu viện Liên Xô không được, phải quay qua nhờ Trung Quốc giúp đỡ.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Bà con xa không bằng láng giềng gần”, chỉ đúng trong trường hợp người bạn láng giềng gần tử tế, lương thiện không hiếp đáp mình. Đàng nầy, người bạn láng giềng gần Trung Quốc qua kinh nghiệm một ngàn năm Thăng Long, là kẻ ỷ thế nước lớn, đã nhiều lần hiếp đáp và chiếm đóng nước ta. Vì vậy nhờ Trung Quốc đánh Pháp là một sai lầm lớn lao, nếu không muốn nói là một tội lỗi của Hồ Chí Minh và đảng CSVN đối với dân tộc, vì một khi giúp Việt Nam đuổi Pháp, Trung Quốc sẽ điền thế chỗ của Pháp, thống trị Việt Nam. Sự thống trị của Trung Quốc còn tệ hại hơn của Pháp. Bằng chứng là dưới thời Pháp thuộc, nước Việt vẫn vẹn toàn lãnh thổ. Trong khi nhờ Trung Quốc đánh Pháp, gọi là giành độc lập, mà dần dần nước ta mất đất, mất biển vào tay Trung Quốc
Sau đó, cầu viện Trung Quốc để đánh Mỹ lại càng sai lầm hơn nữa. Có hai sự kiện cụ thể dễ thấy chứng minh sự sai lầm của CSVN trong vụ chống Mỹ. Thứ nhất, chỉ cần nhìn qua các nước Á Châu gần nước Việt. Mỹ chiến thắng Nhật Bản, tiến quân đến Triều Tiên, nhưng Mỹ đâu có xâm lăng hai nước nầy, mà còn giúp hai nước nầy phục hưng sau thế chiến và cường thịnh như ngày nay. Thứ hai, chính nhà cầm quyền CSVN, vào đầu thế kỷ 21, trải thảm đỏ rước Mỹ vào để vực dậy nền kinh tế Việt Nam và làm đối trọng với Trung Quốc trong cuộc tranh chấp Biển Đông.
Tuy hiện nay muốn nhờ Mỹ để lấy thế mặc cả với Trung Quốc, CSVN vẫn còn nằm dưới trướng của Trung Quốc, vẫn muốn đu giây giữa Trung Quốc và Mỹ, và nhất là lo sợ đàn anh Trung Quốc trả đũa giống như đã từng trả đũa năm 1979 khi CSVN bỏ Trung Quốc chạy theo Liên Xô, nên bị Trung Quốc “dạy” cho một bài học. Phải chăng vì vậy mà đảng CSVN làm lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long vào ngày 1-10-2010 để gọi là mừng ngàn năm Thăng Long, nhưng thực chất là mừng quốc khánh Trung Quốc nhằm lấy lòng đàn anh Trung Quốc?
Muốn chống lại Trung Quốc, chẳng những phải mượn thế của Mỹ, mà quan trọng hơn phải tạo nội lực dân tộc, phải thực hành như Đức Trần Hưng Đảo đã dạy: “Vả lại khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.” Khoan thư sức dân như thế nào, chắc chắn đảng CSVN dư biết, nhưng cũng chắc chắn không phải cách kỷ niệm ngàn năm Thăng Long đúng vào ngày quốc khánh Trung Quốc.
Kỷ niệm ngàn năm Thăng Long là để tưởng nhớ đến sự kiện lập đô hết sức trọng đại của Lý Thái Tổ và tưởng nhớ đến quá trình sống còn của dân tộc với kinh đô Thăng Long, mà CSVN lại tổ chức vào ngày quốc khánh Trung Quốc, là một hành vi quốc nhục, xỉ vả vào lịch sử Thăng Long, lăng nhục lịch sử dân tộc. Tuyệt đại đa số người Việt Nam không chấp nhận thái độ kinh mạn nầy của CSVN. Lễ kỷ niệm chỉ diễn ra vài ngày phù du, nhưng vết nhơ quốc nhục do đảng CSVN gây ra sẽ được dân chúng truyền tụng thiên thu, theo như câu ca dao:: "Trăm năm bia đá thì mòn,/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

TRẦN GIA PHỤNG

Tâm Tình xin gởi đến toàn thể Anh Chị Cựu QN/QLVNCH



Kính thưa Các Anh Chị,

Người viết không là quân nhân (được miễn dịch vì sức khỏe, làm nghề dạy học tại các Tư Thục Sài-Gòn ; thời còn đi học, có tham gia VNQĐD tại địa phương Quãng Nam ) .

Suốt trên hơn phần tư thế kỷ, qua hai thời kỳ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà VN, trong cuộc chiến đấu chống xâm lăng Cộng sản, người viết được chứng kiến, được biết rõ ràng tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường cùng những hy sinh to lớn của tập thể quân đội VNCH để bảo vệ đất nước, bảo vệ tự do cho nhân dân Miền Nam được hưởng cuộc sống ấm no, thanh bình. Người viết cũng như toàn thể nhân dân Miền Nam (ngoại trừ những kẻ nằm vùng theo giặc) vô cùng cảm phục, mến yêu và biết ơn tập thể quân đội VNCH từ cấp binh nhì, binh nhất, hạ sĩ quan đến cấp úy, cấp tá, cấp tướng. Tất cả cùng một tấm lòng yêu nước thiết tha, cùng một dũng khí hùng anh, cùng một ý chí kiên cường bất khuất, dù gian khổ đến đâu, hiểm nguy đến mấy, vẫn luôn vì ‘Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm’, vẫn luôn vì nghĩa nước tình dân dù có phải hy sinh cũng sẵn sàng chấp nhận. Những trận đánh kinh hồn với những chiến công hiển hách tại Pleime, Đắc Tô, Đồng Xoài, Ngọ Môn, Huế, Sài-Gòn hồi Tết Mậu Thân, Bình Long, An Lộc, Mùa Hè Đỏ Lửa… và còn biết bao thắng lợi lẫy lừng trên khắp mọi miền từ địa đầu giới tuyến đến mũi Cà Mau đã tạo nên trang sử hào hùng, vẻ vang của đoàn quân tinh nhuệ, làm nức lòng toàn thể nhân dân .

Những gương hy sinh dũng cảm đó trong cuộc chiến, cùng những gương tuẩn tiết của bao tướng tá như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn,…cùng bao sĩ quan và quân nhân thuộc mọi binh chủng kể cả khí tiết hào hùng của anh em nơi các trại tù Cộng sản, đã nói lên cái nghĩa khí rạng ngời của một quân lực tinh nhuệ, kiên cường, chỉ vì những quyền lợi đổi chác bên ngoài đã ‘bức tử’ một quân đội anh hùng.. Đến nay, trang sử đầy bí mật ̉ dần dần được ‘giải mã’ cùng với thực trạng đất nước đau thương cùng độ do bọn người ‘chiến thắng’ đã và đang gây nên, càng khiến toàn dân cả nước tiếc thương tập thể quân đội anh hùng một thời lẫy lừng trên chiến địa.

Tuy nhiên, bây giờ, nơi hải ngoại, niềm cảm phục của người viết phần nào bớt đi, hao mòn dần nhường chỗ cho ngậm ngùi, thương tủi. Trong nỗi ngậm ngùi đó, nhìn lại trang sừ đã qua, trong tâm trạng một người nặng lòng với đất nước, một nhà giáo cùng một kẻ có biết làm thơ, viết văn ít nhiều, người viết xin gởi đến toàn thể các anh em Cựu Quân Nhân VNCH tại hải ngoại chút tâm tình sau đây :

I.-Thất bại kiêu hùng: Cuộc tan hàng của cả một binh lực tinh nhuệ, đầy nghĩa khí do cái lệnh ‘buông súng’ của Tổng Thống hai ngày Dương Văn Minh cùng sự sụp đổ của chánh thệ̉ VNCH vào ngày 30/04/75 là một thất bại đau thương của toàn thể quân đội và nhân dân Miền Nam để thảm họa trút lên toàn thể mọi người mà tầng lớp quân đội và gia đình họ phải gánh chịu nhiều hơn bất cứ ai. Thất bại nhưng là một ‘thất bại kiêu hùng’. Gọi là ‘thất bại kiêu hùng’ vì tập thể quân đội VNCH chiến đấu đến giờ phút chót trong những điều kiện thiếu thốn, gian nguy cùng cực. và chỉ ‘buông súng’ sau lệnh ‘đầu hàng’ (!) của Tổng Thống Dương Văn Minh và Chính Phủ của ông. Cái thất bại của tập thể Quân Đội VNCH không do họ, mà chỉ vì những sắp đặt, đổi chác, tính toán của các thế lực bên ngoài, đã tước đoạt hết mọi điều kiện chiến đấu. Vì thế, cái thất bại của quân đội VNCH, của nhân dân Việt Nam miền Nam nói chung, là một ‘thất bại kiêu hùng’ chẳng khác với cái thất bại của Imre Nagy, người hùng của dân tộc Hung-Gia-Lợi, bị quân đội Liên Xô thời Nikita Krouchev tràn ngập, tàn sát năm 1956 vì ông và đồng bào ông đã vùng dậy đấu tranh thoát ách Cộng sản để xây dựng Dân Chủ, Tự Do cho xứ sở, cho nhân dân..

Trong lúc đó, kẻ địch tức phe Cộng sản ‘chiến thắng’ nhưng là một ‘chiến thắng nhục nhã’.

‘Kẻ thua thì kiêu hùng, kẻ thắng lại nhục nhã’, nghe ra nghịch lý nhưng sự thực là thế.

Gác qua bên những vấn đề ý thức hệ, chính trị, tình hình thế giới, người viết gọi ‘thất bại của tập thể quân lực VNCH cùng cả Miến Nam là ‘thất bại kiêu hùng’ trong lúc chiến thắng của quân đội và tập đoàn Cộng sản Bắc Việt là ‘chiến thắng nhục nhã’, do từ phân tích ý nghĩa, tinh thần cùng tâm tình trong chiến đấu giữa hai người lính –người lính VNCH và người lính Cộng sản Bắc Việt. (Xin gọi chung là ‘lính’, là ‘quân nhân’ mà ́ không gọi ‘chiến sĩ’, ‘cán binh, bộ đội’ vì đã vào quân ngũ thì gọi theo danh từ chung là ‘lính’),

a) Người lính VNCH: Theo cái nhìn của người viết, người lính VNCH lúc còn dân sự đến khi gia nhập quân đội và đi vào chiến trận, mặc nhiên mang cả bốn tính chất : ‘người dân, người lính, người chiến sĩ và cả người nghệ sĩ’. Họ đi lính là để bảo vệ người dân, ngoài những lần hành quân đương đầu với giặc, họ sống chẳng khác gì người dân ; họ chiến đấu kiên cường nên trở thành chiến sĩ và chất nghệ sĩ luôn ẩn trong họ vì đã được thừa hưởng cái không khí tự do đầy tính Văn nghệ của miền Nam trong học đường, ngoài xã hội, biểu hiện qua ngôn ngữ, hành động, ý nghĩ,…nhất là nơi tầng lớp sĩ quan tốt nghiệp các trường võ bị Đà Lạt, Thủ Đức.

Hai đặc điểm rõ ràng nhất nơi người lính VNCH là tính nhân bản và tính đậm đà tình cảm với nước, với dân, với gia đình, vợ con, với bạn bè đồng ngũ, với người tình, với cả những em gái hậu phương. Do hai tính chất nầy mà sau nầy, văn học VN có biết bao sáng tác trung thực, đẹp đẽ nào truyện, nào thơ, nào nhạc,… nói lên cái ‘đẹp’ của người lính VNCH suốt trên 20 năm chinh chiến chống quân thù. Quân đội VNCH nghiêm minh về kỷ luật nhưng luôn luôn sống thực và tôn trọng tình cảm cá nhân nơi mình và nơi đồng đội.

-Ngoài những lúc phải đối mặt với quân thù, những lần hành quân rà tìm dấu vết kẻ địch, còn thì những lúc dừ̀ng quân, dưỡng quân,…, người lính VNCH hầu như luôn lẩm nhẩm những bài thơ, những bài hát, ngay cả nghe những bài ca phản chiến, sáng tác thơ ca nói lên cuộc sống và tâm tình người lính chiến. Ngay trong trại tù khổ sai của Cộng sản, người lính VNCH cũng làm thơ, làm nhạc, lẩm nhẩm học thuộc lòng rồi lén lút đọc, hát cho nhau nghe để nung chí kiên cường, bất khuát trước gọng kềm của giặc. Bao nhiêu thơ ca, bao nhiêu hồi ký về trại tù Cộng sản đã trở nên những tài liêụ ̉ giúp cho người sau có thể ‘thẩm định’ một giai đoạn lịch sử bi thương của dân tộc.

-Đọc những bức thư nhà của cha mẹ, vợ con, của bạn bè hay người tình rồi viết thư hồi âm, lúc nào cũng nói lên mối tình tha thiết luôn nghĩ về cha mẹ, vợ con,…. để thêm kiên cường chiến đấu, mong sao sớm chấm dứt chiến tranh, về sống yên lành, chăm lo hạnh phúc của nhau cùng gây dựng tương lai cho con cháu.

Một trường hợp đặc biệt, một người lính VNCH nhặt được tập nhật ký của một nữ ‘bác sĩ’̣ Việt Công (cô Đặng Thùy Trâm) chết thảm, đọc qua chỉ thấy những kể lể gian khổ cùng tâm tình gởi đến người tình, đã không nỡ hủy bỏ, ném đi mà trao cho người bạn đồng minh giữ làm kỷ niệm.

-Người lính VNCH, giờ đây yên ấm nơi xứ người, dù có người tuổi đã cao, vẫn không quên bao đồng đội còn nơi quê hương, lết lê thân héo hồn tàn, cùng gia đình thất thểu kiếm ăn từng ngày không đủ sống, để chia xẻ chút tiền già và vận động đồng hương nơi hải ngoại quyên góp hàng năm tìm cách gởi về giúp đỡ đồng đội xưa, rủi ro thương tật (Cũng xin nói người viết rất bất mãn những trò lợi dụng tính ‘nhân đạo’ nầy để mưu lợi riêng và làm lợi cho Cộng sản).

Do tất cả những điều trên, hình ảnh người lính VNCH, theo cái nhìn của người viết, luôn luôn là hình ảnh đẹp.

b) Người lính Cộng sản: Qua một số sự kiện được biết, người viết nhận ra rằng người lính Cộng sản không có những sắc thái đẹp đẽ trên.

Họ -người lính Cộng sản- đi chiến đấu không cho người dân, cũng không cho chính người lính nơi họ mà chỉ cho tập đoàn Cộng sản cầm quyền, cho cái ý thức hệ riêng tư của lớp người lãnh đạo. Cộng sản đã biến người dân thành người lính, đã ép buộc người dân phải trở thành người lính. Họ đã xua hàng hàng lớp lớp người dân đi trước lính trong những chuyến công đồn đả viện. Chiến thuật biển người của Cộng sản đã nướng chết hàng vạn người dân và người lính. Họ cưỡng bức người dân phải trở thành người lính bằng đủ mọi thủ đoạn (như cúp hộ khẩu của cả gia đình) để phục vụ Đảng và Nhà nước, để giương cao ngọn cờ Cộng sản khắp nơi nơi. Họ đã xua hàng vạn thanh niên chưa đủ tuổi trưởng thành phải ‘sinh Bắc tử Nam ’. Họ không ngần ngại xích chân người lính vào các khẩu pháo để họ tìm vinh quang trong chiến thắng và người lính phải hy sinh để được họ phong cho là ‘anh hùng, liệt sĩ’. Cả những thương binh cũng bị cấp chỉ huy đành bỏ mặc, không được tải thương, chữa thương vì không điều kiện hay phải ‘để chêt́’ để khỏi phải ngăn cản việc rút quân sau mỗi trận đánh. Người lính Cộng sản không có một chút sống nào cho mình mà chỉ có phải ‘quyết tử’, phải học thuộc khẩu hiệu, phải là ‘anh hùng’ tạo vinh quang cho Đảng theo thứ ‘chủ nghĩa anh hùng cách mạng’ giả tưởng như Nguyễn Văn Trổi, Lê Văn Tám. …Đả̉ng nắm trọn mọi thứ, kiểm soát từng lời ăn, tiếng nói, từng thái độ, cử chỉ của người lính, người dân. Người VN nào, dù Bắc Nam, Trung, miền xuôi hay miền thượng cũng đều mang tính chất nghệ sĩ ít nhiều nơi mình nhưng Đảng đã giết chêt́, đã ngăn chặn cái tính nghệ sĩ bản nhiên đó nên người lính Cộng sản chiến đấu không cho dân, vì dân, không cho đất nước quê hương mà chỉ để phục vụ Đảng Cộng sản. Họ phải nhập tâm ‘yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội’ , phải tôn thờ Đảng hơn cả Tổ quốc, hơn cả tổ tiên, cha mẹ mình. Bị Đảng giết chết hết mọi tình cảm tự nhiên, đẹp đẽ nơi con người, nên người lính Cộng sản không có được những nét đẹp như người lính VNCH.

-Người lính Cộng sản không được phép viết một thư cho cha mẹ, vợ con kể lễ những gian truân nơi chiến trường, không được phép nhận một bức thư nhà nói về nỗi mong ngóng, đợi trông ; không được viết hay ngâm một câu thơ, một lời nhạc nói đến tình ái lứa đôi, than thở, trở trăn một cuộc tình dang dở hay cảnh đoàn tụ yên vui, xây dựng hạnh phúc gia đình nay mai khi được sống sót trở về.(nếu có thì chỉ là lén lút, âm thầm). Mọi thư từ, nếu có, của người lính Cộng sản gởi cho cha mẹ, vợ con, bạn bè đều bị các cấp chỉ huy, các cấp đảng ủy kiểm duyệt, phải tuân thủ đúng công thức viết thư mặc nhiên do Đảng đã ấn đinh : ‘phải nói lên tinh thần quyết tử, phải sĩ vã chưởi mắng đối phương, phải ca tụng và biết ơn đảng,…’.

-Không người lính Cộng sản nào bị thương hay bị bỏ mình nơi chiến trận mà được Đảng hay cấp chỉ huy thông báo cho gia đình, vợ con.

-Người lính Cộng sản không bao giờ được có lời hay thái độ thở than về mọi gian nguy, thiếu thốn cùng cực của mình cũng như bày tỏ nỗi xót thương cha mẹ, vợ con ngày đêm trông mong mình được trở về nguyên vẹn.

-Người lính Cộng sản không bao giờ được phép có một ý, một lời tỏ ra bất mãn, khó chịu mà lúc nào và bao giờ cũng phải tung hô ‘Đảng vĩ đại, bách chiến bách thắng,(!),…’.

-Mỗi người lính Cộng sản -cũng như mỗi người dân dưới chế độ Cộng sản- phải tự biến mình thành một tên công an, một tên tình báo, một tên mật thám với chính mình, với cha mẹ, vợ con, với bạn bè, với đồng đội. Những thanh niên sinh sau 1954 lại càng thiếu cái chất ‘nghệ sĩ’ bản nhiên của dân tộc vì chế độ giáo dục Xã hội chủ nghĩa đã làm triệt tiêu tính chất nầy rồi. Cuồng tín và cuồng bạo -cuồng tín theo Đảng, cuồng bạo đối với ai không theo đảng- đấy là chủ đích giáo dục của Cộng sản cho nhân dân miền Bắc và cho lớp lính Cộng sản trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam.

-Người lính Cộng sản đi vào chiến trận không vì yêu nước, yêu dân, cũng chẳng phải vì bổn phận, trách nhiệm, danh dự vì họ chỉ là thứ công cụ trong tay Đảng, mặc sức vo tròn, bóp méo sinh mạng và cuộc sống của họ.

-Người lính Cộng sản bắt buộc phải nhập tâm và thực hiện cho bằng được cái ‘vinh quang’ của đảng bằng chính sinh mạng người dân và người lính nơi mình. Bởi vì, người lính Cộng sản, khi chỉa súng vào đối phương, cùng lúc đã cảm thấy họng súng của đảng chỉa vào gáy, vào lưng mình, nên bắt buộc phải ‘quyết tử, phải anh hùng’ (!).

Do đó, cái chiến thắng của Cộng sản ngày 30/04/75 là một ‘chiến thắng ô nhục, một chiến thắng nhơ bẩn’. Do cuồng tín và cuồng bạo, người Cộng sản đã trở thành những sát thủ, sát nhân và sau chiến tranh, đã đày đọa đối phương bằng đủ mọi thủ đoạn bạo tàn khủng khiếp.

Cái ‘nhục nhã, nhơ bẩn’ nầy của Cộng sản càng được chứng minh qua bao việc làm của Cộng sản sau ngày họ gọi là ‘Đại thắng mùa Xuân’ năm đó. Suốt trên 30 năm, Cộng sản đã gây ra điêu đứng cho nước, cho dân, ai cũng đều thấy rõ : sẵn sàng làm tay sai cho Tàu Cộng, nhường đất, nhường biển cho Tàu cộng, đày đọa nhân dân vào cùng độ thảm thương, biến VN thành xứ sở lạc hậu, thoái hóa, nghèo nàn nhất, nhơ bẩn nhất trên thế giới.

Cái ‘chiến thắng nhục nhã’ của Cộng sản vào ngày đó đã khiến toàn dân miền Bắc bàng hoàng, sửng sốt, đau buồn vi suốt trên 20 năm dưới chế độ ‘VN Dân Chủ Cộng Hòa’, dưới lá cờ máu ‘nền đỏ sao vàng’, nhân dân Miền Bắc luôn mong ngóng, đợi trông từng ngày từng tháng được quân lực VNCH ra giải phóng họ, nào ngờ…. :

Cái ‘chiến thắng nhục nhã’ của Cộng sản vào ngày đó đã khiến một nữ Văn công Cộng sản (nhà văn Dương Thu Hương) lúc bà ngồi nơi góc đường Tự Do, đã ngậm ngùi, bi phẫn lên lời : ‘Kẻ chiến bại là người văn minh, kẻ chiến thắng lại dã man’ (người viết ghi nội dung, không nhớ đúng nguyên văn). Và sau nầy, bao người Cộng sản, nhìn lại cái .’chiên thắng nhục nhã’ của họ, đã không còn gọi tập thể chiến sĩ VNCH là ‘ngụy quân’ mà gọi là ‘quân đội Sài-Gòn’ một cách trân qui, tiếc thương.

Rồi cũng chính người Cộng sản, vài chuc năm sau, càng làm nhục thêm cái chiến thắng nhục nhã của họ. Khẩu hiệu ‘chống Mỹ cứu nước’ ngày nào, bây giờ trở nên trơ trẽn, mất giá một cách thảm hại. Chống Mỹ, đuổi Mỹ để rồi sau đó, trải thảm đỏ đón rước kẻ ‘cựu thù’ hay liên tiếp van xin viện trợ, đầu tư ; nhục nhã hơn nữa là cấp lãnh đạo Cộng sản lại gởi con cháu mình qua học hành, tu nghiệp nơi cái xứ ‘tư bản đế quốc’ mà họ từng mắng nhiếc không tiếc lời.

Cái ‘chiến thắng nhục nhà’ của người Cộng sản lại càng lúc càng thêm ‘nhầy nhụa, đê hèn’ vì ngày nào sỉ vả hàng ngũ quân đội VNCH đủ điều xấu xa, mạt sát họ chỉ là ‘tay sai đế quốc’, trốn qua Mỹ để được hưởng chút cơm thừa canh cặn của quan thầy, mạt sát vợ con họ qua Mỹ là hạng đĩ điếm, lưu manh, thế mà, chỉ hơn mươi lăm năm sau lại ve vuốt, vỗ về, ca tụng là ‘khúc ruột ngàn dăm’ để ngửa tay sung sướng, mừng rỡ nhận được số ngoại tệ do chính bọn người ‘phản động, phản cách mạng’ nầy từ ngoại quốc gởi về mà số người ‘làm ơn’ (!) cho chúng, phần lớn lại chính là các Cựu Quân Nhân VNCH cùng gia đình của họ.

[Viết những dòng trên, một điều, người viết thấy cần minh định rõ ràng : ‘những từ ‘chiến thắng nhục nhã, cuồng bạo, đê hèn’, người viết dùng để nói về tập đoàn lãnh đạo Cộng sản cùng cấp tướng tá đảng viên Cộng sản, chứ không ám chỉ hàng ngũ binh sĩ đã bị Cộng sản bắt buộc phải vào Nam chiến đấu vì những lớp binh nhì, hạ sĩ, cả một số cấp úy chỉ là nạn nhân đã bị Lãnh đạo và tướng tá CS thúc ép phải cầm súng phục vụ cho tham vọng đen tối, cho quyền lợi, quyền lực của chúng thôi.. Người viết cũng xin rút lại những từ mang tính ‘nhục mạ’ trên đới với những đảng viên CS, những cấp tướng tá CS nay đã phản tỉnh, trở về với dân tộc, đứng vào hàng ngũ nhân dân chống lại Đảng CS và chế độ CHXHCN bạo tàn, đấu tranh xây dựng Dân chủ, Tự do cho cả nước, như Trung Tướng Trần Độ (?), Trung Tá Trần Anh Kim cùng bao người nữa]

Từ ngày đó (30/04/75) cho đến nay và mai nầy, toàn dân VN, lịch sử VN càng lúc càng yêu mến, ca ngợi cái ‘thất bại kiêu hùng’ của tập thể quân đội VNCH, của cả nhân dân VNCH, và càng chê khinh, căm ghét̉ cái ‘chiến thắng nhơ bẩn’ của tập đoàn Cộng sản côn đồ, phi nhân.

II.- Đau thương, Tủi nhục:

Nhưng rồi, đến xứ người, cái ‘kiêu hùng’ có hừng hực dâng cao trong một số năm đầu, thì sau đó, từ lúc Hoa Kỳ bỏ lệnh ‘cấm vận VN’ rồi bang giao bình thường với VN Cộng sản, tiếp theo những chủ trưởng ‘hòa hợp hòa giải, quên quá khứ, quên hận thù, hướng về tương lai’ của một số trí thức, chánh khách (!) hoạt đầu cơ hội cùng với cái được gọi là chủ trương ‘diễn biến hòa bình’ của Hoa Kỳ, chủ trương cởi mở ‘kinh tế thị trường theo định chế xã hội chủ nghĩa’ của Cộng sản, nhất là sau vụ lừa gạt của một đôi tổ chưc‘Mặt trận, Chính Phủ’ (nhằm mưu đồ riêng tư chứ không thực lòng vì nước, vì dân) ; thêm vào đó thủ thuật ve vuốt, cù rủ ma mị của Cộng sản, người Việt tỵ nạn Cộng sản, trong đó không ít Cựu Quân Nhân, vội vã về VN, gởi tiền về VN. Cái khí thế đấu tranh chống Cộng để xây dựng Dân chủ Tự do cho đồng bào quốc nội càng lúc yếu dần, hàng ngũ người Việt tỵ nạn Cộng sản càng ngày thêm phân hóa đáng buồn. Trong lúc đó, tập đoàn Cộng sản lại có điều kiện khai thác để phá nát Cộng Đồng người Việt hải ngoại.

Nơi đây, người viết chỉ xin tâm tình với tập thể anh chị Cựu Quân Nhân Quân Lực VNCH, xin không ngỏ lời với các giới đồng bào khác.

Do những tác động khách quan nói trên, các̉ Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại đã tự mình làm lịm tắt cái hiên ngang, kiêu hùng đáng quí trước đây. Và, theo người viết, chính sự suy sụp ý chí, tinh thần của Anh Chị Cựu Quân Nhân Quân lực VNCH đã khiến lây lan, làm cho tinh thần, ý chí chống Cộng của đồng bào càng lúc càng yếu đi vì, trong số người tỵ nạn Cộng sản thì hàng ngũ Cựu Quân Nhân chiếm tỷ lệ cao nhất; số đông yếu đi thì số ít kia cũng mất đi chỗ tựa bền vững, mạnh hùng. Sự việc đáng buồn nhưng không thể không kể ra.

Cái ‘kiêu hùng trong chiến đấu’ cũng như ‘kiêu hùng trong thất bại’ trước đây là của chung Tập thể Quân đội VNCH chứ không của riêng ai dù cấp bực Tướng Tá, cũng không riêng của một Binh chủng nào. Thế nhưng, sang xứ người, một số Anh Chị không sống với cái ‘kiêu hùng chung’ đó mà giành cái ‘kiêu hùng chung’ đó cho riêng mình để tự đề cao mình nhưng lại nhân danh binh chủng mình, vô tình gây mất tình ‘đoàn kết’ của cả tậ̣p thể.

-Một đôi người viết hồi ký tâng bốc công trạng mình, lại viết không mấy đẹp về kẻ khác. Một sô kháć, qua các bài viết trên báo, trên các diễn đàn cũng thế. Thấy người nầy tự đề cao, khoe khoang công trạng thì người khác thấy cũng cần nên ‘khoe mình’ chút ít… Và khi tự đề cao mình thì mặc nhiên gây ra bất mãn nơi số người khác để đưa đến những chỉ trích, chê bai, mai mỉa, kể xấu nhau, xuyên tạc, vu khống, bóp méo sự thật, kể cả moi móc đời tư để ‘hạ gíạ́’ nhau. (Người viết xin cảm mến những những chiến sĩ hào hùng trước đây, sang xứ người, ôm nỗi buồn đau, cô đơn, lặng im, không nói, không viết gì về mình, về cuộc chiến vừa qua, dù người viết luôn mong các vị đó có những hoạt động cụ thể trong công cuộc đấu tranh chống Cộng. Nhiều hồi ký, nhiều bài viết, bài thơ của một số Tướng, Tá, của một số cấp Úy, ngay cả cấp Hạ sĩ, binh nhì, chỉ thuật lại những trận đánh, những chiến thắng, tuyệt nhiên không đề cao, thành tìch của mình ; những hồi ký, bài viết đó mang tính lịch sử chứ không phải nhằm ‘ca tụng’ mình, quả đáng khâm phục về tinh thần và tư cách của các tác giả).

- Sang xứ người, mỗi Anh Chị chỉ là một ‘Cựu Quân Nhân’ thôi và là từng cá nhân một, chứ không còn nằm trong một́ hệ thống tổ chức, có chỉ huy, có cấp trên cấp dưới nữa. Thế nhưng, một số hầu như còn nghĩ tưởng cái quá khứ trước đây nên sống trong ‘hoài niệm’ để sinh ra buồn chán

- Một số khác̀, qua xứ người sớm, chịu khó làm đủ nghề, ăn nên làm ra, điều nầy quá tốt nhưng đôi người đâm ra hợm hĩnh’ ‘hãnh tiến’, khiến thái độ đối xử, giao tiếp với nhau trở nên lạnh nhạt, tỵ hiềm rồi xa lánh nhau, chê khinh nhau.

Những mặc cảm tai hại trên đã khiến cái tình ‘huynh đệ chi binh’ ngày nào tan loãng, đã khiến cái ‘kiêu hùng của tập thể Quân Đội VNCH’ sút giảm, mất giá, phai nhạt dần đi. Cái ‘kiêu hùng của cả tập thể’ giờ đây biến thành cái ‘kiêu hùng’ của từng cá nhân, cái kiêu hùng ‘giả tạo’ do mặc cảm tự tôn, tự ty, do thói quen ưa đề cao, ưa khoe khoang, ưa tâng bốc của từng cá nhân. Nhiều Anh Chị Cựu Quân Nhân hầu như không còn giữ, không còn sống cái ‘tinh thần tập thể’ xưa kia mà chỉ sống với cái cá nhân, mượn danh nghĩa ‘Cựu Quân Nhân’ làm chiêu bài để tự hào, trang hoàng mình với đồng bào nơi hải ngoại.

III.- Tính khoác lác khoe khoang, tự đề cao, quảng cáo mình:

-Nơi xứ người, vai trò Cựu Quân Nhân không còn thích hợp về mặt quân sự ̣nên xoay qua ‘tranh đấu về mặt chính trị’. Và cái danh hiệu Cựu Quân Nhân trở thành một bảng hiệu quảng cáo sáng giá nơi những kẻ háo danh, háo lợi, háo tiếng tăm… Rồi lợi dụng cái ‘Tự do ngôn luận’ nơi xứ Dân chủ, mỗi người tha hồ bày đặt đủ thứ để đề cao, tâng bốc mình, tự cho ta đây mới là kẻ yêu nước thiệt tình, mới là chién sĩ chống Cộng trung kiên, đúng đắn nhất, kiêu hùng nhất. Để chứng minh điều nầy, mỗi người tìm cách ̀kể lể, nêu ra những thành tích của mình trong chiến đấu trước đây, những thành tích nhỏ thôi nhưng được phóng đại thành lớn lao..

-Đôi Anh Chị, nghĩ rằng mọi hồ sơ quân bạ trước đây, qua bao nhiêu năm hẳn không còn lưu trử, nên đã ‘tự phong’ mình từ một cấp thấp lên một cấp cao hơn (chẳng hạn từ Thiếu Úy, Trung Úy lên Thiếu Tá, Trung Tá,..) hay được một đôi tổ chức ‘phong’ cho tước hàm vượt bực rồi khoe khoang bao việc làm ngày trước thực sự nhiều khi là bịa đặt, để ‘đánh bóng’ mình với bao đồng đội. Rồi, một số Anh Chị khác sưu tầm, tìm ra, vạch trần những gian dối, bịa đặt ; thế là cãi vã, đôi co, chỉ trích, noi xấu bằng đủ mọi thứ ngôn ngữ nặng nề..

- Đôi Anh Chị có̉ được một tờ báo, một Diễn đàn, thế là dùng phương tiện nầy quảng cáo mình đủ cách, nghĩ rằng chỉ mình mới là người quốc gia chân chính, trung kiên, mới là kẻ kế thừa đúng đắn cái ‘kiêu hùng, bất khuất’ của Quân đội VNCH hơn ai hết. Cái kiêu hãnh, tự tôn, không được chứng minh rõ ràng bằng sự việc ngày qua hoặc ‘có ít xít ra nhiều’ dĩ nhiên không thể không gây bất mãn cho bao Anh Chị khác vì thấy những kẻ đó không làm rạng danh hàng ngũ Quân Đội mà chỉ khiến thanh danh Quân Đội ngày thêm mất giá. Những vụ ‘đánh phá’ nhau, bôi nhọ nhau nhan nhản trên các diễn đàn,.

-Rồi mỗi người, vì cái thói quen ưa đề cao, ưa khoe khoang, cứ nghĩ chỉ có mình mới là kẻ tích cực chống Cộng, mới là ‘anh hùng’ chống Cộng. Từ đó, nẩy sinh cái tính ưa lãnh đạo, mua chuộc, quyến rủ một đôi người khác theo phe mình, tung hô, tâng bốc mình. Những ai không đồng ý, không thuộc ‘phe’ mình hoặc có lời nói, thái độ không đồng tình với mình, thì bị xem là ‘tiêu cực’, là ‘lưng chừng, là ‘thân cộng’, làm tay sai cho Cộng. Mọi thói vu vạ, chỉ trích, đánh phá, sĩ vã nhau được tung ra trên báo chí, truyền thông khiến bao nhiêu kẻ khác không còn biết ai là kẻ thực sự chống cộng, ai là kẻ mượn chiêu bài ‘chống cộng’ để đánh bóng, cốt làm ‘vang danh’ tên tuổi cá nhân mình. Từ đó, cái ‘kiêu hùng bất khuất’ của tập thể Quân Đội VNCH trước đây không còn được mọi người tôn trọng như xưa vì hàng ngũ Cựu Quân Nhân VNCH bây giờ phân hóa, chia rẻ, chống đối nhaủ,. Ai cũng muốn làm ‘lãnh tụ’, ai cũng tự cho là ‘anh hùng’, tự cho mình mới là kẻ ‘xứng đáng’ nhất, từ đó tạo bi kịch cho toàn thể. Cứ xem cái Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức, bao năm qua đã rã rời, tan nát ra sao, cho mãi đến nay cũng vẫn còn tình trạng đau thương đó. Cho dù bảo rằng do Cộng Sản phá hoại, nhưng chưa hẳn do Cộng sản tài ba gì mà trước tiên do từ những mặc cảm tự tôn, tự ty, do cái thói quen ưa tranh giành địa vị, tiếng tăm, ưa tạo cho mình một thứ ‘danh tiếng’ hão huyền, ưa được nắm quyền điều khiển, ưa làm ‘lãnh tụ’, ưa được tâng bốc, đề cao. Cộng sản khai thác nhự̃ng điểm đó để gây chia rè, nghi ngờ nhau giữa hàng ngũ các Anh Chị và đồng bào chống Cộng. Mỗi Anh Chị, khi phóng bút tự đề cao mình trên báo chí, diễn đàn, hầu như quên nghĩ đến việc Cộng sản thừa cơ lợi dụng mình, cùng không nghĩ đến hậu quả xảy ra cho mình và cho các Anh Chị khác cũng như cho công cuộc đấu tranh chống Cộng của toàn thể người Việt tỵ nạn Cộng sản.

Thưa các Anh Chị,

Qua những những điều được nói trên, người viết đau lòng nghĩ rằng: ‘’Cai kiêu hùng của tập thể Quân đội VNCH’ trước đây, nay chỉ còn là vang bóng. Bây giờ, một số Anh Chị Cựu Quân Nhân không còn giữ, không còn sống thực với cái ‘anh hùng tập thể’ đó. Cái anh hùng của tập thể bị ‘tước đoạt’ để biến thành cái ‘anh hùng cá nhân’ nơi mỗi ngườị. Trước đây, trong chiến tranh, Cộng sản cùng bao thế lực bên ngoài (như đài BBC, như các kẻ phản chiến) cố tình ‘làm nhục’ quân đội VNCH, thế mà tập thể Quân đội vẫn kiên cường, bất khuất, vẫn hiên ngang, kiêu hùng cho đến giờ phút cuối. Bây giờ, nơi hải ngoại, cuộc sống đủ đầy, yên ổn, được hưởng tự do, nghĩ rằng cái ‘kiêu hùng tập thể’ kia càng có điều kiện thuận lợi phát huy, thế mà ngược lại, cái ‘anh hùng tập thể’ kia đang trên đường bị ‘hạ nhục’ !. Do các mặc cảm tai hại và các thói quen xấu trên, một số Anh Chị khi tự đề cao mình, đã vô tình, mặc nhiên ‘tự mình làm nhục mình, rồi làm nhục Anh Chị Em, từ đó làm nhục lây cái ‘kiêu hùng của cả tập thể quân đội VNCH’. Không rõ các tên tuổi ‘nổi đình nổi đám’ luôn ‘đánh phá’ nhau trên các báo chí, trên các diễn đàn Net có cảm thấy như vậy không ?

Cái ‘tự làm nhục chính mình’ và ‘gây nhục cho nhau’ của một số Anh Chị đó đã khiến các Anh Chị mặc nhiên phạm bao tội lỗi với bạn bè đồng ngũ, với đất nước, nhân dân, với cả con cháu của Anh Chi :

* Trước tiên với các Anh Chị em Thương phế binh và gia đình họ bên quê nhà.. Bài thơ được phổ nhạc ‘Gởi súng cho tao’ đã nói lên cái ‘kiêu hùng bất khuất’ của quân đội, của người quân nhân VNCH bây giờ đang bị đọa đày, gian khổ, ra sao, không rõ các anh em có để ý không ? Các anh em Thương Phế binh có cần tiền để qua cơn ngặt nghèo nhưng điều mong mỏi lớn nhất của Anh Em Thương Phế Binh là được thấy cái ‘anh hùng bất khuất’ của Quân Đội VNCH vẫn sống mãi nơi người Cựu Quân Nhân nơi hải ngoại để bên nhà, có bị lớp người Cộng Sản chà đạp, họ vẫn kiêu hãnh với cái ‘anh hùng’ của người Quân Nhân VNCH như ngày nào. Những trò ‘bôi bẩn’ nhau’ trên các Diễn đàn,, của một số Anh Chị Cựu Quân Nhân nơi hải ngoại đã làm tổn thương cái chí hùng anh, bất khuất của Anh Chị Em phế binh bên nhà.

* Các Anh Chị đã mặc nhiên phụ lòng trông đợi, tin tưởng nơi đồng bào quốc nội. Biết bao Trí thức, Sinh viên, Thanh niên, Văn Nghệ Sĩ, biết bao người đang tranh đấu cho Dân chủ tại quốc nôị, ngay cả hàng hàng lớp lớp đồng bào nghèo khổ, luôn mong ngóng, trông chờ vào tầng lớp Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại đoàn kết đấu tranh chống Cộng sản, hổ trợ cho quốc nội, mong ngóng từng ngày, từng tháng lớp Cựu Quân Nhân VNCH cùng đồng bào VN tỵ nạn CS, làm được những gì đó để có thể sớm giải phóng quê hương và đồng bào thoát khỏi gọng kềm ác nghiệt của chế độ Cộng sản phi nhân như trước đây đồng bào miền Bắc trông chờ Miền Nam giải phóng miền Bắc khỏi gông cùm Cộng sản. Tự làm nhục mình, làm nhục tập thể Quân đội VNCH qua các trò ‘đánh phá’ nhau, đã làm suy yếu sức mạnh tranh đấu chống Cộng của đồng bào tỵ nạn CS, mặc nhiên, các Anh Chị đã mang tội với đất nước, với nhân dân, với lịch sử.

* Các Anh Chị cũng làm mang tiếng lây đến cả gia đình, cả các lớp con em của chính các Anh Chị. Thử nghĩ, con cháu các Anh Chi, sau nầy nhìn lại những việc làm, những bài viết, những lời, những ngôn ngữ thô bạo, tàn độc trút đổ lên nhau, con cháu các Anh Chị sẽ đau lòng, buồn tủi cho lớp cha ông, lớp đàn anh của chúng ra sao?

* Cái ‘tự làm nhục mình’ của mỗi Anh Chị cũng là một tội lỗi đối với chính các Anh Chị. Ngày nào, trong lao tù Cộng sản, mỗi Anh Chị đã phải kê khai lý lịch bao lần, đã phải kể rõ cả quá trình gia nhập quân đội VNCH, có Anh Chị nào đầu hàng, khuất phục để ca ngợi Đảng và quân đội Cộng sản đâu, có nói cái ‘nhục’ tham gia quân đội VNCH đâu, có tố cáo, phỉ báng một anh em quân nhân nào khác đâu, trái lại còn ngang nhiên nói lên cái khí tiết kiên cường bất khuất của tập thể Quân đội VNCH trong đó có Anh Chị. Nếu quả, các Anh Chị đã viết, đã ‘nhìn nhận’ cái ‘nhục’ đã vào quân đội VNCH, thì bao nhiêu năm nay, Cộng sản đã tung ra những bài viết, những cung từ đó để có bằng cớ hiển nhiên mà mạ lỵ, mạt sát tập thể Quân nhân miền Nam VNCH. là hèn nhát, là bất tài vô tướng. Thế sao, giờ nầy, các Anh Chị không kiên định, giữ vững cái khí tiết hào hùng đó mà lại bôi bác nhau, ‘ném bùn’ vào nhau? Các Anh Chị đã quên cái quá khứ anh hùng của mình, đã tự đánh mất giá trị, tư cách của mình mà nào có do một bắt buộc, cưỡng ép nào đâu. Ai làm nhục các Anh Chị, ai làm nhục cả tập thể Quân đội VNCH anh hùng giờ nầy? Chính là một số các Anh Chị đấy, các Anh Chị có ̀ để ý điều đó không?

Kính Thưa các Anh Chị,

Trong niềm đau buồn, tủi hận, người viết xin chân thành bày tỏ với số Anh Chị Cựu Quân Nhân nói trên hai đề nghị sau đây:

a) Đề nghị thứ nhất: Xin các Anh Chị Cựu Quân Nhân hãy dẹp qua những tỵ hiềm, ganh ghé́t, hãy gác qua những bất mãn, tranh chấp nhỏ nhen để cùng ngồi lại dựng xây lại cái kiêu hùng của tập thể Quân Đội VNCH, sống lại cái ‘anh hùng, bất khuất’ của tập thể Quân Đội trước đây. Không cần phải được giữ vai trò, chức vụ, điều khiển, chỉ huy, bỏ qua hết cái thói ưa đề cao, ưa được trọng vọng, ưa được nổi tiếng, tránh hết những luận điệu, khôn ngữ khích bác, công kích nặng lời, để mọi tổ chức, mọi hội đoàn quân nhân thuộc bất kỳ binh chủng nào giờ nầy được sinh hoạt đều đặn, tốt đẹp, mạnh mẽ. Xin diệt bỏ mọi mặc cảm tự tôn, tự ty, tự đại; xin diệt trừ thói quen ưa ton hót, nịnh bợ, ưa khoe khoang, tự đề cao mình. Xin giũ sạch mọi ganh ghét, tỵ hiềm, bất mãn cá nhân, mọi tranh chắp nhỏ nhen để cùng ngồi lại, bổ sung và đồng hợp khả năng, ý kiến, chung sức, chung lòng, thành tâm, thiện chí cùng toàn thể đồng bào hải ngoại đấu tranh kiên cường giúp đồng bào quốc nội tin tưởng, vùng lên giải thể chế độ Cộng sản bạo tàn. ̉Xin các Anh Chị, những ai, đã từ́ng mạt sát, đánh phá nhau bằng đủ mọi lời thô bạo, hãy can đảm ‘tự xin lỗi’ mình và xin lỗi nhau để từ nay thông cảm, thân thiết, đồng thuận về chủ trương, đường lối đấu tranh chống Cộng, làm rạng danh lại cái hào hùng hiên ngang, bất khuất của cả tập thể Quân Đội VNCH và của cả tập thể nhân dân Miền Nam. (Những điều vừa nói chẳng mới mẻ gì, bao người đã từng nghĩ, từng biết; người viết chỉ xin nói lại một cách rõ ràng hơn thôi).

b) Đề nghị thứ hai: Nếu xét thấy tự mình không đủ hùng tâm tráng khí, không đủ điều kiện, khả năng để cùng các Anh Chị em khác đấu tranh thì xin trung thành với cái Căn cước Tỵ nạn chính trị, không về nước du lịch, du hí… không nghe lời dụ dỗ, mua chuộc của Cộng sản, cứ bình thường lo cho cuộc sống hàng ngày, lo cho vợ cho con, không bôi tro trát trấu vào nhau,…Tuy làm như thế là thái độ tiêu cực nhưng ít ra cũng không gây hại cho công cuộc đấu tranh chống Cộng của các Anh Chị khác, của toàn thể đồng bào.

Trên đây là tâm tình nguời viết mạn phép gởi trao đến các Anh Chị Cựu Quân Nhân VNCH.

Có thề, những lời nầy sẽ bị một số Anh Chị xem là ‘trịch thượng’, dám ‘bày khôn xử khéo’ của một kẻ không là quân nhân. Có thể, một số Anh Chị sẽ bất mãn, phẫn nộ rồi lên án người viết bằng đủ mọi thứ ngôn ngữ ̃thô bạo. Người viết xin vui lòng lảnh nhận mà không trả lời. Tâm tình trao gởi không được cảm thông, đón nhận thì có giải bày đến mấy cũng chẳng đi đến đâu.

Không ai làm nhục được mình khi mình không ‘tự làm nhục’ mình. Chúng ta đừng nên làm như người Cộng sản. Chính người Cộng sản đã ‘tự làm nhục’ họ, làm nhục quân đội của họ từ lâu rồi khi đem xương máu người lính phục vụ mộng đồ đen tối của chúng. (xem thêm phía trên). Cứ xem ông Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã bị chúng làm nhục và cúi đầu chịu nhục ra sao. Bao nhiêu tướng tá Cộng sản đã phãi chết mờ ám như thế nào. Và bây giờ, chính hàng ngũ quân đội của họ, nhất là cấp đầu não cũng đang làm nhục nhau vì tranh giành quyền lực, vì chia chác quyền lợi tham nhũng không đều. Ngay cả Hồ Chí Minh, lãnh tụ của họ cũng đã hèn nhát, nhục nhã ra sao. Cho dù, có người bảo Hồ Chí Minh nghĩ rằng ‘cái lỗi lầm lớn nhất của ông là theo Cộng sản’ và suốt quảng thời gian dài, ông bị những Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ,…áp lực biến ông thành ‘ bù nhìn’ cho chúng (như những Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, như quyển ‘Đỉnh Cao Chói Lọi’ của Dương Thu Hương từng nói) thì ‘tại sao ông không dám từ nhiệm, không dám tự tử ?’ mà lại cam tâm, đành lòng để chúng vây hãm, kềm kẹp, bắt phải tuân phục ý đồ của chúng ? Chừng ấy đủ nói lên cái ‘hèn nhát’ của Hồ Chí Minh, cái ‘tham sống sợ chết’ của lãnh tụ Cộng sản. Hiện nay, bao cấp lãnh đạo cùng Tướng tá Cộng sản còn tiếp tục cái ‘đê hèn’ đó mà còn hơn thế nữa.

Đừng thấy Cộng sản giờ nầy dùng bao thủ đoạn gian manh, đang hết sức bày đủ trò lung lạc và tìm cách phá nát Cộng đồng người Việt hải ngoại mà nghĩ rằng chúng sẽ thành công.. Cộng sản đang phải đối phó với bao khó khăn nan giải về kinh tế, về chính trị trong nước và trong nội bộ chúng ; chúng đang trên đà đi xuống, đang trên đà tan rã. Mọi vùng vẫy của chúng nơi hải ngoại chỉ nhằm che đậy những nát tan của chúng nơi quốc nội thôi. (Những điều nầy, sẽ do bao thức giả có đầy đủ dữ kiện để xác minh với toàn thể Anh Chi). Và chính tập thể Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại là lực lượng mạnh mẽ nhất đập tan mọi hoạt động của Cộng sản khi các Anh Chị chịu ngồi lại với nhau, cùng đề cao tính anh hùng, bất khuất của Quân Đội trước đây, không còn tỵ hiềm, đánh phá nhau nữa.

Hãy luôn sống cái ‘anh hùng, bất khuất, cái khí hạo nhiên kiên cường của cả tập thể Quân Đội VNCH trước đây, hãy vững tâm bền chí, tránh tất cả mọi lời, mọi thái độ, mọi hành động gây chia rẻ, phân hóa hàng ngũ; hãy tôn trọng tư cách, nhân phẫm mình và của kẻ khác, nhất là Anh Chị Em đã từng là đồng ngũ. Hãy đoàn kết, tương thân, tương ái để cùng đấu tranh cho một ngày non nước nở hoa. Ngày Hội Non Sông huy hoàng, tráng lệ sẽ đến với toàn thể con dân yêu nưóc thương nòi.

Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.
(Nguyễn Du)

Người viết chẳng chút vui vẻ nào khi viết lời tâm tình nầy. Chẳng qua vì lòng khâm phục, kính mến và biết ơn tập thể Quân Lực VNCH anh hùng suốt 21 năm chiến đấu chống Cộng sản xâm lăng. Nay, nhìn cảnh phân hóa của tập thể Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại mà viết nên thôi.

Người viết chân thành xin lỗi những Anh Chị Cựu Quân Nhân nào không mắc phải những mặc cảm cùng một số thói quen không tốt nói trên, đã và đang sát cánh cùng đồng bào nơi hải ngoại kiên trì đấu tranh chống Cộng bấy lâu nay. Người viết luôn tin tưởng vào sứ mạng thiêng liêng mà Tổ Quốc đã trao gởi cho Quân Đột VNCH anh hùng, bất khuất từ những năm 1954 đến nay mà một số thành quả lớn lao cùng đồng bào tỵ nạn CS đã thu đạt được trong công cuộc trường kỳ đấu tranh chống Cộng trên khắp mọi nơỉ có người VN tỵ nạn CS cư ngụ.

Kính mong tất cả Anh Chị Em Cựu Quân Nhân VNCH nơi hải ngoại nhận cho tấm lòng chân thành của kẻ viết.

France , 16 tháng 02 năm 2009
Nguyễn Thùy
Thuy Georges Nguyen

Monday, August 30, 2010

Lữ đoàn 147 Thủy Quân lục chiến


Từ một cuộc di tản chiến thuật tháng ba 1975
Chúng ta đang bước vào những ngày lễ tưởng niệm Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19-6. Cuộc chiến đấu một mất một còn với chủ thuyết cộng sản toàn cầu đã chấm dứt hơn 34 năm về trước, nhưng niềm đau xót khôn nguôi luôn ám ảnh vào tâm khảm của mỗi chiến sĩ miền Nam Tự Do. Người lính Việt Nam Cộng Hoà bị buộc phải thua đau trong niềm tức tưởi nghẹn ngào. Còn kẻ chiến thắng thì bàng hoàng ngơ ngác, không biết từ đâu mà mình chiến thắng quá nhanh và dễ dàng như vậy. Niềm oan ức về một sự sụp đổ một thể chế Cộng Hòa suốt hơn 20 năm gầy dựng, ngày nay đã được minh oan bằng những chứng cớ lịch sử. Chính nghĩa của một chế độ đã được phục hồi cùng những chiến sĩ can trường bất khuất trong cuộc chiến đó. Những người lính VNCH đã nằm xuống trên mọi miền đất nước nay đã được vinh danh, cùng những Thương phế binh đã mất một phần thân xác mình cũng đã được phục hồi danh dự, bằng những buổi ca nhạc gây quỹ “Cám ơn Anh”với sự tham dự vài chục ngàn người. Cờ vàng chính nghĩa đã được công nhận trên rất nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, cùng rất nhiều đài tưởng niệm chiến sĩ Việt Mỹ đã được dựng lên, để tôn vinh và mãi mãi ghi nhớ công lao của những anh hùng đã nằm xuống, và máu xương đã đổ ra trong cuộc chiến đấu bảo quốc an dân đó.
Tôi vẫn nhớ mãi cái ngày mà đơn vị tôi đã phải tan hàng tại cửa biển Thuận An, Huế. Một cuộc bại trận không phải do những người lính chúng tôi không chịu chiến đấu, mà do từ lệnh trên của các cấp thẩm quyền, ngoài khả năng hiểu biết của anh em chúng tôi. Một cuộc lui binh chưa từng được viết ra trong binh pháp, và cũng chưa đơn vị nào đem ra áp dụng bao giờ. Ðó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong quân sử miền Nam VN.
Bài viết nầy xin dành tặng các chiến hữu TQLC của tôi, những người đã may mắn không hiện diện tại mặt trận phía Bắc Quảng Trị vào những ngày cuối tháng ba gãy súng. Các anh có lệnh xuôi Nam còn chúng tôi những Kình Ngư, Hắc Long, Mãnh Hổ, Sói Biển, Thần Tiễn còn ở lại. Những diễn biến có thật mà máu và nước mắt tưởng chừng như không đủ để nói lên những oan trái xót xa đã dành sẵn cho thân phận của một người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
oOo
Ðầu tháng 3 năm 1975, Cộng sản Bắc Việt dốc toàn lực lượng tấn công hầu cưỡng chiếm toàn bộ miền Nam.. Bình Long, An Lộc thất thủ. Thị xã Ban Mê Thuộc sau đó cũng bị bỏ ngõ hoàn toàn với sự rút quân ồ ạt như nước vỡ bờ của Quân Ðoàn 2 về Nha Trang và nhiều nơi khác. Trong khi đó phòng tuyến phòng thủ phía Bắc do SÐ/TQLC đảm trách vẫn còn là một vùng đất yên tĩnh trong sự cẩn thận, dè dặt chờ đợi lẫn nhau.
Sau sự phối hợp nhịp nhàng của 2 Sư Ðoàn tổng trừ bị thiện chiến nhất là Nhảy Dù và TQLC, với thế đánh gọng kìm liên tục từ 2 phía Ðông Tây, đã buộc địch phải tháo chạy với nhiều tổn thất nặng nề, bằng chiến thắng tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị ngày 14-9-72. SÐ Nhảy Dù được điều động về mật trận Ðức Dục, Quảng Nam. SÐ/TQLC ở lại chịu trách nhiệm trên một tuyến khá rộng trải dài từ bờ biển Ðông sang tận những mỏm núi tận cùng phía Tây thuộc dải Trường Sơn, qua các vùng Mỹ Thủy, Long Quang, Bích La, Triệu Phong, Nam sông Thạch Hãn, Như Lệ, Tích Tường, La Vang, Ðộng Ông Ðô, Barbara, Anne, Cổ Bi, Hiền Sĩ, Thanh Tân, Lồ Ô...
Liên đoàn 911 và các đại đội biệt lập ÐPQ tiểu khu Quảng Trị được đặt dưới quyền điều động của BTL/SÐ/TQLC hành quân trong việc phòng thủ này. Mặc dù là đơn vị được giao nhiệm vụ phòng thủ, nhưng SÐ/TQLC vẫn luôn chứng tỏ khả năng cơ động tấn cộng tận sào huyệt địch, như cuộc đổ bộ vượt sông Thạch Hãn của TÐ6/TQLC vào tháng 10 năm 72, cuộc hành quân thần tốc tái chiếm cửa Việt tháng 1 năm 1973 trước giờ ngưng bắn có hiệu lực của hiệp định Paris và đặc biệt Lữ Ðoàn 258 TQLC đã hạ một tàu vận tải lớn tiếp tế địch đang mon men ngoài khơi bờ biển Mỹ Thủy tháng 6 năm 1973.
Ngược lại, địch quân chưa có lần nào dám liều lĩnh tấn công vào các đơn vị TQLC. Có chăng chỉ là những hành động phá hoại lén lút, đặc công, giật mìn lẻ tẻ trên các trục lộ giao thông tiếp tế. Phải nói rằng đây là phòng tuyến phòng thủ vững chắc nhất, thưà sức ngăn chặn mọi cuộc xâm lăng từ phương Bắc xuống của CS Bắc Việt.
Do tình hình xáo trộn chung của đất nước và vì nhu cầu đòi hỏi cấp bách của chiến trường lúc này, bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã quyết định điều động phân lớn các lực lượng TQLC về Nam gồm các LÐ-258, LÐ-369 và LÐ-486 vừa mới được thành lập. LÐ-147 do Ðại Tá Nguyễn Thế Lương chỉ huy gồm các Tiểu đoàn 3, 4, 5, TÐ Pháo binh, 2 đại đội Viễn Thám và Tiểu đoàn 7/TQLC thuộc Lực Lượng Ðặc Nhiệm Tango do Ðại Tá Tư Lệnh Phó trực tiếp chỉ huy đang nằm sẵn trên các tuyến. Thay vào lỗ hỏng to lớn trên là 2 Liên Ðoàn BÐQ với trang bị quân số thiếu hụt. Ðây là khởi điểm cho tất cả sự bỏ ngõ sau này ở mật trận Bắc Quảng Trị.
Mãi đến chiều tối ngày 7/3/1975, địch bắt đầu mở cuộc tấn công đầu tiên thật mãnh liệt vào một trung đội tiền đồn tại đồi 51 thuộc căn cứ Tư Tưởng, hướng Tây Quốc Lộ 1, cây số 23. Ðơn vị này được chỉ huy bởi Trung Úy Sáng ÐÐP/ÐÐ1 tiểu đoàn 4 TQLC đã chiến đấu thật can cường, đẩy lui nhiều đợt xung phong biển người của địch. Lần liên lạc sau cùng qua máy PRC-25 vào lúc 4 giờ sáng, anh đã yêu cầu pháo binh chụp thẳng trên đầu mình vì vị trí bị địch tràn ngập. Anh đã tử thương sau đó trong cuộc cận chiến bằng lựu đạn với kẻ thù. Sáng sớm ngày 9/3/75, Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn TÐT/TÐ4/TQLC điều động toàn bộ lực lượng còn lại, nhờ có sự yểm trợ thật chính xác của các phi vụ A-37 thuộc không lực vùng I chiến thuật, ta đã hoàn toàn làm chủ tình hình. Xác địch nằm ngỗn ngang trong các bãi mìn của hàng rào phòng thủ, một số đồng bọn khác đang lẫn tránh trong các bụi rậm bị ta bắt sống. Cũng cùng trong đêm đó, tại một nơi khác, tiểu đoàn 121/ÐPQ Tiểu Khu Quảng Trị đã tóm nguyên trung đội địch khi chúng tìm cách tiến về hướng quận Hương Ðiền. Ngày 22/3/75, đoàn xe tiếp tế cuối cùng của đơn vị rời hậu trạm Măng Cá, Huế vào vùng hành quân. Chúng tôi được biết hầu hết dân chúng đã di tản vào Ðà Nẵng và hậu trạm cũng được Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn mang tất cả trang thiết bị về cửa biển Thuận An chờ lệnh.
Tôi chỉ thị cho các đại đội thu gọn lại các trang bị và phải gấp rút di tản các thương bệnh binh đi theo chuyến tiếp tế này. Ngày 23/3/75 vào lúc 3 giờ chiều, sau khi VC đồng loạt pháo kích dữ dội vào tất cả các vị trí, địch từ thượng lưu sông Bồ, xung phong tấn công vào các tuyến của ÐÐ2/TÐ5/TQLC, vì quá bất ngờ và thiếu cảnh giác nên 2 Trung đội tận cùng cánh trái của đại đội này bị bung tuyến. Tôi liên lạc với Ðại-úy Trần Văn Loan ÐÐT hãy cố gắng gom con cái lại và chỉnh đốn đội hình, đồng thời báo cáo tình hình này về BCH Lữ-đoàn. Ðại Tá Lữ đoàn trưởng ra lệnh là bằng bất cứ giá nào cũng phải chiếm lại vị trí vừa mất.
Chấp nhận mọi hy sinh thiệt hại, ÐÐ4 của Ðại-úy Nguyễn Văn Hai được tăng cường và đã hoàn tất nhiệm vụ vào lúc 6 giờ sáng ngày 24/3/75. Cũng trong thời gian này, hầu hết tất cả các đơn vị Biệt Ðộng Quân, Ðịa Phương Quân tự động rã ngũ bỏ tuyến phòng thủ Bắc Quảng Trị kéo về Huế thật hỗn độn. Thị xã Quảng Trị coi như bị bỏ ngõ hoàn toàn. Tiểu đoàn 4/TQLC được điều động về làm nút chặn tại phía Nam cầu An Lỗ. TÐ7/TQLC trấn dọc sông Mỹ Chánh từ cầu Vân Trình ra biển Ðông, phòng tuyến cao nhất phiá Bắc của miền Nam.
Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, nhận dược lệnh về tham dự cuộc họp khẩn cấp tại BCH/LÐ. Ðại-tá Lương, LÐT cho chúng tôi biết rõ tình hình tổng quát và nhiệm vụ phải thi hành đêm nay là một cuộc di tản chiến thuật cho tất cả các lực lượng về cửa biển Thuận An, vùng đất từ Bắc đèo Hải Vân trở ra rồi sẽ lọt vào tay địch... Cũng như thành phố Quảng Trị bị vất bỏ một cách vô tội vào sáng hôm nay khi mới chỉ có một vài loại pháo kích lẻ tẻ đâu đó.
Thế là hết, còn gì đâu hào quang chiến thắng “Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu...” Máu của hàng vạn đồng bào, máu của hàng ngàn chiến hữu nằm xuống cho vùng đất hồi sinh và ngay bây giờ, từ tối nay Huế cũng sẽ chịu chung số phận. Cố Ðô đầy niềm kiêu hãnh tự hào dân tộc rồi sẽ bị nhuộm đỏ bởi lũ người khát máu CS. Hàng trăm nấm mồ chôn sống tập thể còn đó, máu xương mồ hôi nước mắt của bao chiến sĩ QLVNCH còn đây trong lời thề quyết tử bảo vệ cố đô Mậu Thân 1968. Còn đâu nữa những ngày tháng vàng son nhất của người lính chiến nơi tuyến đầu lửa đạn lúc nào cũng hùng dũng hiên ngang. Có nỗi đau nào hơn niềm tủi nhục của người lính bại trận!
Việc cần thiết trước nhất là phải làm sao bảo đảm được đơn vị rút lui một cách trọn vẹn, an toàn hầu đủ sức chịu đựng một cuộc dạ hành trên đoạn đường dài gần 30 km. Thiếu-tá Ngô Thành Hữu, Tiểu đoàn phó và Ðại úy Gianh Văn Nhân, ban 3 đang chờ đợi tại BCH Tiều đoàn. Chúng tôi cùng đồng ý với nhau bằng một cuộc lui binh trong bí mật, bất ngờ. Tất cả vũ khí nặng, cồng kềnh như 90 ly, súng cối 81 ly, hỏa tiễn TOW chống chiến xa, đạn dược và những trang bị nặng nề được lệnh phá hủy tại chỗ hay ném xuống dòng sông. Ðại đội 1 của Ðại úy Hồ Văn Chạnh đóng chốt từ xa được di chuyển trước, chúng tôi không xử dụng đoạn đường quen thuộc hàng ngày, phải băng qua một xóm nhỏ để đến cây số 17 cầu An Lỗ mà là dọc con đường sắt suôi Nam, rồi sau đó sẽ đổi hướng vế quốc lộ 1 khi các đại đội đã bám sát được với nhau. Ðã có chừng cả trăm người lính đủ mọi binh chủng, không còn đơn vị đang tụ tập vây quanh 4 chiến xa M-48 nằm chơ vơ giữa lộ, nòng súng chỉa thẳng về hướng quân thù, bình thản cười nói vui vẻ như đang tham dự một cuộc dạ hành ngoài trời. Ðến trường trung học Hương Trà nằm sát lề Ðông quốc lộ, tiểu đoàn dừng lại để kiểm điểm quân số và củng cố lại đội hình. May mà trong tay chúng tôi còn 1 xe Jeep hành quân, cứ thế chạy lên, chạy xuống để “tha” những người lính bết bát, trễ nãi sau cùng. Ðiều tưởng như không ngờ, thế mà đã xảy ra một cách thật tội nghiệp cho trung đội Nghĩa Quân quận Hương Trà, tập họp và bị bỏ quên tại đây chờ lệnh thượng cấp từ mấy ngày nay. Người trung đội trường già đến xin tháp tùng cùng chúng tôi. Vài chiếc xe M41 nữa cũng bắt đầu nổ máy rầm rộ tiến giữa đoàn quân. Nhiều đám đông dân chúng hòa lẫn hoặc nối đuôi phía sau họ ra đi từ chợ Cạn, Hội Yên, Vân Trình, Hải Lăng, Mỹ Chánh... từ ngày hôm qua hay sớm hôm nay vì không còn gì để hy vọng vào sự bảo vệ của người lính chúng tôi.
Tiếng khóc than vang vọng thấu trời xanh, họ, những kẻ bất hạnh, còn lại sau cùng đang lê lết từng bước một lần mò tìm “tự do” vì một cuộc chủ nghĩa cộng sản bạo tàn. Vài cụ gìà chống gậy, các trẻ thơ vô tội kia rồi sẽ ra sao? Liệu có còn đủ súc hay phải kiệt hơi ngã qụy dọc đường.
Rời ngã ba An Hòa rẽ phải tiến về Huế, thành phố bỏ ngõ tối tăm rải rác còn lại vài bóng bên đường. Nhiều vết lửa tung tóe lên bầu trời u tối do những trái sáng dược ném từ các toán lính tan hàng mất đơn vị chẳng biết phải làm gì. Súng vẫn nổ lẹt đẹt đó đây hòa lẫn tiếng chó tru vọng ra từ các căn nhà vắng chủ. Phú Văn Lâu vẫn nằm đây bên bờ sông Hương, nhưng còn đâu bóng dáng các con đò quen thuộc hàng ngày. Tiều đoàn bắt đầu tiến quân qua chiếc cầu đúc mới xây bên dưới bến bờ Nam dòng sông, rồi từ đó quẹo trái về Ðông, hướng ra biển. Tôi cho xe dừng lại ở phía bên này cầu chờ đợi cho hết người lính sau cùng. Cảm thấy khá an tâm và một chút hãnh diện về những binh sĩ thuộc quyền, tất cả đều can đảm, hy sinh chịu đựng và luôn tuân lệnh cấp chỉ huy ngay trong những giờ phút nguy hiểm nhất như lúc này.
Tôi không nhớ là bao nhiêu lần mình đã nhân danh thẩm quyền để mà ra lệnh cho thuôc cấp xung phong vào chỗ chết. Với 12 năm trong cuộc đời binh nghiệp, con số này chắc không ít lắm đâu? Dĩ nhiên là cấp chỉ huy nhỏ, tôi cũng chỉ là kẻ truyền và kiểm soát lệnh và cá nhân mình cũng bị xoay quanh trong các vòng luẩn quẩn ấy! Vài con gió mạnh thổi từ mặt biển vào, cũng nơi đây cây cầu, dòng sông một thời kỷ niệm, tôi bỗng cảm thấy luyến tiếc thèm khát tìm gặp lại một vài nơi chốn quen thuộc lần cuối may ra hình ảnh cũ để nhớ người xưa! Cho tài xế lùi xe lại tiến về hướng đại lộ Trần Hưng Ðạo và dự định theo cầu Trường Tiền cũ qua sông. Ðường trống vắng chẳng có một chiếc xe nào lai vãng, xa xa trong bóng tối chập chờn, lác đác vài bóng người. Tôi bắt đầu cảm thấy ớn lạnh. Bây giờ ngoài đơn vị TQLC ra, các đơn vị khác chẳng còn gì nữa để mà phân biệt lẫn nhau, qủa thật chẳng còn tình nghĩa gì ràng buộc, nếu có ai đó nổi hứng “bóp cò”.
Có lệnh cho tôi tiến về phía trước để gặp Ðại Bàng Long Mỹ (Ðại tá LÐT), ông giao cho một xấp bản đồ và thay đổi lộ trình về phía phà Tân Mỹ, đoạn đường từ đầu thôn Vỹ Dạ về cửa biển Thuân An không thể nào nhúc nhích nổi, nhiều dòng người di tản cùng các đơn vị tan hàng đổ về đây với không biết bao nhiêu xe cộ. Thượng sĩ Thương, thường vụ tiểu đoàn, chẳng biết từ đâu mang về vài két bia 33, có lẽ từ khách sạn Hương Giang bỏ trống? Anh nói với tôi:
– Nhậu đi Ðại Bàng, đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh.
– Thôi nhanh lên mà đi ông ơi! Non nước này mà còn nhậu với nhẹt!
Từ hướng quán cơm Âm Phủ, một người đàn ông già trạc 60 tuổi tìm đến phàn nàn về một số lính vào đập phá, lục lạo nhà của ông ta.
– Coi chừng Việt cộng đó Ðại Bàng.
Thử hỏi ai mà biết được ai trong thời buổi tranh tối, tranh sáng này, ngay cả toán lính đập phá kia - có điều tại sao trong hoàn cảnh như thế này mà ông ta là kẻ dửng dưng như vậy!
Qua khỏi cầu Ðập Ðá một quãng nữa, bắt đầu rẽ phải vào con đường đất, thôn Vỹ Dạ chìm đắm trong màn đêm u tịch, đó đây leo lét nhiều ngọn đèn dầu từ khắp các miếu thờ, vết tích vàng son của một thời vua chúa. Chó càng lúc càng sủa vang bên những khu vườn trống vắng, đoàn quân vẫn tiến đều. Ðến khúc lộ bị hư, đành phải vất bỏ xe lại dọc đường.
– Phá hủy xe đi ông thầy.
– Không cần, mình đang di chuyển, không nên gây tiếng nổ.
Lẩm bẩm trong miệng, Liên, tài xế mò vào túi quần lấy ra con dao, cắt hết tất cả dây trong đầu máy xe và quăng bình điện vào một bụi rậm gần đó. Anh cũng không quên hốt thật nhiều cát bỏ vào bình xăng và nói:
– Ai ngu để cho lũ ác ôn xử dụng, mình không dùng, phá hư luôn...
hì... hì...
Ðến tờ mờ sáng thì toàn thể đơn vị đã có mặt bên này phá Tam Giang mênh mông, nềm vui rạng rỡ trên mặt mọi người. Phải mất thêm 3 tiếng đồng hồ nữa mới đến được bờ bên kia sát biển bằng một số “ghe gọ” của dân còn lại ở xóm chài. Từ lâu mới có một ngày nắng đẹp như hôm nay, bầu trời trong xanh với nhiều tia nắng long lanh chiếu vào mặt biển. Gió vi vu vừa đủ để mơn trớn các con sóng vỗ ì ạch vào bờ. Không còn gì thích bằng ngồi đây, dưới bóng râm của hàng dương xanh thẩm, trên đồi cát, hướng mắt về đại dương bao la, nơi đó nhấp nhô nhiều con tàu như người tình mơn trớn hưá hẹn. Ăn vội ít cơm ở bao gạo sấy còn lại, trong chớp mắt chập chờn, tiếng la khóc, than van còn mãi ám ảnh trong trí tôi trên đường rút chạy sáng hôm nay.
Cuộc đời khổ đến thế là cùng! Tỉnh giấc khi có lệnh cho đơn vị chuẩn bị ra bãi bốc để lên tàu. Ðó là khoảng 2 giờ ngày 25/3/75. Cả Lữ Ðoàn tập họp trên bãi cát trắng xóa theo thứ tự sẵn sàng như một cuộc hành quân đổ bộ ngày nào. Ðâu phải chỉ việc sắp hàng chờ lệnh lên tàu là xong, địch đã rượt theo ta đêm hôm qua, đã mò sát đít chúng tôi sáng hôm nay, địch đã có mặt bên kia bờ phà, địch đã trà trộn trong đòan quân. Theo lệnh của mặt trời Papazulu nào đó (Tướng Lâm Quang Thi, TLP/QÐ1!!!), chiếc HQ-801 dành riêng cho TQLC đã chực sẵn cách bờ khoảng 50m. Nhưng đâu phải chỉ có chúng tôi cần sống, còn dân chúng, những người lính mất đơn vị hỗn độn kia, họ cũng cần cứu vớt như chúng tôi, mà chẳng ai có kế hoạch gì riêng để giúp đỡ họ.
Trong cơn quẫn bách này, không ai cần nghĩ đến ai, chà đạp tranh giành nhau mà sống, mạnh được yếu thua, khi con rắn đã mất đầu chỉ còn lại cái đuôi tha hồ mà ngóc nguẩy. Như sức bật của chiếc lò xo, tất cả ùa nhau tràn ra tàu, người không biết lội ôm sát người biết bơi, ngụp lặn với tử thần trong sóng nước, vài chiếc xe M-113 lội nước ủi tới đè lên, tiếng rên la gào thét. Một sơn sóng nhồi lên, hai cơn sóng đập xuống, những cái đầu lô nhô, nhiều thân hình chìm lịm, mất hút trong khi con tàu vẫn nổ máy đợi chờ. Ðịch đã vượt phá Tân Mỹ, đã có mặt ở cái miếu trên đồi cát đầu làng. Ðịch đã bắt sống một số lính phía sau, địch bắt đầu pháo rải rác khắp nơi trên mặt biển.
Bãi bốc đã không còn an ninh mà trật tự cũng chẳng có. Con tàu đành bất lực rời bến. Ðể được an toàn hơn, Lữ Ðoàn quyết định dời bãi bốc về hướng Nam và bằng đủ mọi cách phải tách rời đám đông hỗn loạn kia hầu dễ dàng đối phó với tình hình mới. Dọc theo mé nước đầy rẫy xác người, những bộ mặt nhợt nhạt, bất động, ngừng thở theo cơn sóng biển dập vùi, có lạ, có quen. Người dễ nhận ra nhất là Ðại úy Ân, ÐÐT/ÐPQ Tiểu khu Quảng Trị.
Chúng tôi đã di tản chiến thuật bằng con đường máu ở mặt trận Hạ Lào 1971, đã rời bỏ Ðông Hà, Quảng Trị dọc đại lộ kinh hoàng mùa hè đỏ lửa năm 1972. Với sự nguy hiểm cùng cực nhưng tinh thần đâu có quá tuyệt vọng như bây giờ vì dù sao cũng còn chút gì để hy vọng ở đoàn quân tiếp tế phiá sau. Còn ở đây rơi vào tình thế vô cùng tuyệt vọng. Cả nguyên Lữ đoàn có hơn 3000 quân, tiến thoái lưỡng nan trong cái túi càn khôn chỉ vỏn vẹn 4 km 2, đang gìơ lưng chịu trận. Tàu chiến Hải Quân QLVNCH vẫn trương cờ lảng vảng ngoài khơi, nhưng các khẩu đại bác đâu rồi?! Niềm hy vọng mong manh còn nhen nhóm là sẽ được tàu vào đón, nhưng sẽ ưu tiên theo thứ tự nào? Ðơn vị nào sẽ phải nằm lại chịu trận và làm vật hy sinh sau cùng? Bóng chiều bắt đầu trải dài trên bãi cát trắng xóa mênh mông để báo hiệu màn đêm buông xuống. Lữ Ðoàn quyết định rải quân phòng thủ. TÐ4 và 7 phụ trách mặt trận Tây, TÐ3 phía Nam, TÐ5 chúng tôi phía Bắc. Ðại uý Tô Thanh Chiêu, ÐÐT/ÐÐ2 và Thiếu tá Nguyễn Trí Nam TÐP/TÐ4/TQLC đã hy sinh trong giờ phút thứ 25 này cùng một loạt đạn của tên du kích hèn nhát bắn lén trong khi làm nhiệm vụ điều động quân rải tuyến. Ðiều đáng thương tâm nhất là hai người vừa mới lập gia đình và cả hai bà vợ đang mang thai. Cái chết thật quái ác, tình cờ bởi bàn tay oan nghiệt của tạo hóa, định mệnh!
Tin từ BCH/LÐ cho biết là tàu sẽ vào đón đêm nay hay trễ nhất là sáng sớm ngày mai theo thứ tự như sau: BCH/LÐ, TÐ2PB, TÐ4, TÐ3, TÐ5, TÐ7... Ðúng theo sự suy nghĩ dự đoán của chúng tôi, lẽ dĩ nhiên các đơn vị tan hàng hay bị sứt mẻ không còn khả năng chiến đấu thì ưu tiên mang họ đi càng sớm càng tốt để không làm vướng bận các đơn vị còn lại. Nhưng cả BCH/LÐ đi hết thì ai sẽ là người chỉ huy chúng tôi. Ðiều này thật cần thiết và quan trọng nhất. Cái thứ tự di chuyển mà không một binh thư nào viết ra hoặc chúng tôi chưa hề áp dụng trước đây.
Qua ánh trăng mờ ảo, dòng người bị bỏ lại ban chiều đang ồ ạt kéo về tuyến phòng thủ. Không còn cách gì hơn là phải chận họ lại nằm sát phòng tuyến trong tầm bảo vệ hỏa lực để khỏi làm xáo trộn cho sự điều động chỉ huy của quân bạn bên trong. Súng vẫn nổ đều khắp nơi và chẳng có con tàu nào cập bến. Trăng vẫn lên cao, khuya dần. Cùng lúc, vài tốp người xé lẻ, hèn nhát tách bến rã ngũ ra khơi.
Rạng sáng ngày 26/3/75, khi ánh bình minh vừa ló dạng ở phương Ðông thì con tàu cùng thủy thủ đoàn cũng bắt đầu tiếp tục nhiệm vụ, ủi thẳng vào bờ theo sự điều động của BCH. Ðã có chuẩn bị sắp xếp từ trước, nên việc di chuyển lần này tương đối trật tự hơn. Ưu tiên vẫn là BCH/LÐ và các thương phế binh từ các đơn vị mang đến. Ðịch thừa thắng xông lên cố ra sức đánh vào đầu chúng tôi những đòn thù chí tử. Ðây là điều nghiệt ngã nhất của chiến tranh, có vay có trả. Chúng tôi đã diệt gọn nguyên trung đoàn 48 địch một cách không thương tiếc khi quét sạch chúng ra khỏi hang cuối cùng tại cổ thành Quảng Trị. Những vòng sắt oan nghiệt của đoàn chiến xa M48 và M41 đã nghiền nát vô số lính cộng sản Bắc Việt, sinh Bắc tử Nam, qua các dãy địa đạo ngầm trong hầm khi tấn công tiến vào cửa Việt.
Pháo địch cùng lúc càng mãnh liệt hơn và chiếc tàu nằm chình ình giữa biển khơi vẫn là mục tiêu tốt nhất để chúng điều chỉnh tác xạ ngắn, dài... Một cục lửa, hai cục lửa, rồi quá nhiều cục lửa của loại hỏa tiễn tầm nhiệt AT3 rải rác đó đây. Có cái rớt ngay dòng người di tản ngụp lặn theo sóng nước. Có cái trúng thẳng vào thân tàu. Con tàu chòng trành nhổ neo tách bến.
Ðể bớt căng thẳng, tôi chui ra khỏi hố trú ẩn làm một vòng quanh tuyến. Những vệt sáng của lằn đạn đạo thẳng cùng nhiều quả đạn pháo kích đan chéo nhau vi vút trong gió biển. Các khẩu súng cối 60 ly và phóng lựu M79 của ta đáp lễ cầm chừng, không khả năng nhiều lắm nhưng cũng để chứng minh rằng “bên em vẫn đang có ta đây!” Dọc theo mé nước sát biển, thầy trò Thiếu tá Võ Ðằng Phương, TÐT/TÐ2/PB/TQLC, Ðại uý Lê Tự Hào cùng một vài người lính đang gấp rút xử dụng các mũ sắt của mình để cào cào moi hố. Họ là những người sau cùng bị sót lại khi hầu hết đơn vị mình đã được lên tàu.
– 207 đây 416 gọi. Anh ở lại take care con cái.
– Vâng! Nhận rõ.
416!207 là biệt hiệu của Thiếu tá Phạm Cang TÐT/TÐ7/TQLC, người thâm niên và giỏi nhất trong đoàn bạn tôi. Còn 416 là danh xưng của Trung tá Nguyễn Ðằng Tống LÐP/LÐ147.
Nắng chiều nhạt dần, sóng biển rì rào và bờ cát lại trống vắng đến lạnh lùng, không còn một bóng người lai vãng, họ đang chiến đấu ở tuyến đầu, họ tránh núp đạn dưới hố sâu, họ hối tiếc, thèm thuồng về một con tàu khác. Các đại đội lại thêm một số bị thương, lại thêm vài người chết nữa. Ðạn dược, lương thực cạn dần trong khi chúng tôi cố hết sức giữ vững tinh thần binh sĩ bằng cách liên lạc máy thường xuyên với các đại đội. Cảm giác bị vất bỏ bắt đầu nhen nhúm trong ý nghĩ mình, nhưng tôi vẫn chưa dám tin rằng điều này có thật, vì nếu như vậy thì còn thể thống gì đến quân đội và tổ quốc mà biết bao người đã hết lòng yêu thương và phục vụ. Mò mẫm vào cuốn đặc lệnh truyền tin, tôi vận máy qua tầng số BTL/SÐ đang ở đâu trên đèo Hải Vân, với trạm liên lạc chuyển tiếp giữa Huế và Ðà Nẵng. Người tiếp tôi là Ð/U Ðan, tùy viên tư lệnh:
– Ðại Dương, cho tôi xin gặp Lạng Sơn (biệt danh của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh SÐ/TQLC).
– Lạng Sơn đang bận lắm. Có gì ông anh nói, tôi sẽ chuyển.
– Nhờ Ðại Dương trình với Lạng Sơn cho chúng tôi lệnh kế tiếp.
– Ở đây cũng đang lu bù lắm, không ai có thể giúp gì được cho ông anh. Tốt hơn hết là self-service. Good luck ông anh!
Mặt mày tối tăm, xây xẫm, thất vọng, tôi ném ống liên hợp xuống cát... self service... có nghĩa là tự lực cánh sinh, tùy cơ ứng biến, có thể là mạnh ai nấy lo, có thể là tan hàng!
Khoảng quá xế trưa, mặt trời Papazulu lại xuất hiện bằng một giọng thật đanh thép, ông ra lệnh cho một chiếc HQ khác, bằng bất cứ giá nào cũng phải bốc tiếp chúng tôi. Con tàu lại tách sóng hướng thẳng vào bờ phiá Bắc tuyến phòng thủ chừng 200m. Lần này, TÐ4 sẽ lên tàu dưới sự sắp xếp chỉ huy của Thiếu tá Ðinh Long Thành, tân TÐT của đơn vị này. Bất kể là đơn vị nào, bất cứ là ưu tiên cho ai, thật nhiều đám người từ mọi hướng đổ ập về đây tràn xuống như thác lũ. Con tàu quá tải tròng trành trên mặt nước, chân vịt ngưng quay nằm bất động vì máy đã hỏng rồi. Lại thêm một đêm nữa rồi sẽ đến với tình thế mỗi lúc một tồi tệ hơn. Phải quyết định ngay bây giờ, nhưng giải quyết bằng cách nào đây? Tôi gọi HS1 Lê Hồng Quảng Nam, người cận vệ thân tín nhất đến, sau khi đã cạo nhẫn bộ râu của mình, chính nhờ nó mà tôi đã ăn nên làm ra trong đời binh nghiệp và được giấy phép của bộ TTM cấp hẳn hòi với lý do: “Uy tín cấp chỉ huy”.
– Anh chuẩn bị cho tôi một ít nước uống và vài gạo sấy để phòng thân.
Nam do dự mếu máo:
– Ông thầy đừng bỏ tụi em, có gì cho tụi em theo với. Thuận, Thành hai hiệu thính viên cũng oà lên khóc.
– Yên trí, thầy trò mình sẽ sống chết có nhau mà.
Ðầu óc tôi cứ mãi bị ám ảnh bởi lời đề nghị của Ð/U Ðan là ông anh nên “self service”. Nhưng chuyện này cũng có 5, 7 cách khác nhau. Hãy tìm một vài người lính thật khỏe mạnh, bơi nhà nghề, mà phải là dân chuyên đi biển ở Nha Trang hay Phan Thiết, mò vào nhà dân hay dọc theo mé nưóc, tìm sẵn một chiếc ghe thật tốt, chuẩn bị sẵn sàng, thừa nước đục thả câu sẽ cùng bỏ trốn như loài chuột. Nhưng cũng chẳng phải dễ dàng lắm đâu! Chúng tôi sẽ bị bắn chết bởi đồng đội trước khi nạp mình cho bầy cá mập, hay là tuyên bố hoạch toẹt rõ ràng, đơn vị tan hàng, mạnh ai nấy lo, đâu phải lỗi ở mình. Ðiều này quá trắng trở và trắng trợn, chẳng còn tình nghĩa gì. Nếu còn sống làm sao dám nhìn lại mặt nhau như Hai Chồn, Pake, Loan Mắt Nhung, Chanh Trọc, Ba Ngành, các ÐÐT lương đen lì lợm, nhậu rượu như uống nước mà đánh giặc rất chí tình. Tôi liên lạc máy với Thiếu Tá Cang TÐT/TÐ7 cùng Thiếu Tá Sử TÐT/TÐ3, chúng tôi cùng đồng ý với nhau là chẳng còn cách nào khác hơn, mở đuờng máu xuôi Nam về cửa biển Tư Hiền còn nước, còn tát.
Nói là mở đường máu chứ thực ra chỉ là cách thối thác cho một sự tan hàng, đường về bít lối, vì nếu có trầy da tróc vẩy đến nơi thì cũng chỉ là vùng trời mây nước mênh mông, ngồi đó chờ nộp thịt cho chằng. Di chuyển cũng theo thứ tự lớp lang, nhưng đội hình chẳng còn. Sức mòn, lực kiệt, súng cầm tay, tinh thần đã mất, đạn dược cũng không, cứ nhắm mắt nhắm mũi mà chạy 1,2,3,4... 1,2,3,4 “đường trường xa con chó nó tha con mèo....” càng xa địch bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Nhiều tiếng nổ chát chúa phía sau, của địch thì ít mà của ta thì nhiều. Những người lính bị thương không còn khả năng theo kịp đoàn quân, bò lết lại với nhau, bung chốt lựu đạn nổ để “thà chết vinh, còn hơn sống nhục”. Ðứa con đầu của TÐ3 Sói Biển đang bị một đại đội du kích chận lại, phía trước ùa về, ở sau đùn tới, vô vọng, tuyệt vọng, chưa bao giờ tôi cảm thấy thèm sự sống bằng lúc này, miệng luôn luôn lẩm bẩm xin Phật Trời giá hộ “cùng tắc biến, biến tắc thông”.
Nhóm chúng tôi gồm 5 người tấp vào xóm dân chài, hy vọng sẽ được giúp đỡ bởi tình quân dân cá nước ngày nào, nhưng hiện tại quân đã tan thì tình cũng chẳng còn, mặc dầu đã cố gắng nài nỉ hết sức kể cả tiền bạc thuê mướn, nhưng họ đã từ chối thẳng thừng. Chủ nghe là gã trung niên lực lưỡng, mặt rỗ hoa mè chắc là tên Việt cộng nằm vùng hay du kích gì đó. Thôi thì “tam thập lục kế”, kê súng vào đầu dọa nạt là thượng sách nhất.
Ðây là lần thứ hai tôi chạy giặc, lúc nhỏ vào lúc 5 tuổi theo mẹ trốn vào rẫy mỗi lần “mới sớm mai thằng Tây nó bố vào rừng ta quyết trốn”. Và bây giờ sau 26 năm khi đã trưởng thành trong quân ngũ... vẫn còn súng đạn trong tay cùng những chiến hữu bạn bè, tôi phải chạy trốn giặc cộng, thằng chủ nghe đang ngồi với tôi bây giờ là một tên VC chín rõ mười mươi, hắn phá máy cho ghe ngừng, hắn làm dấu chỉ điểm mỗi lần kề sát ghe địch. Nhiều người dọa đánh hắn tại chổ, tôi ngăn không cho, chuyện gì rồi cũng phải tính đường về, nếu nhỡ thì sao!
Chỉ vỏn vẹn mấy ngày phù du mà bao điều biến đổi dồn dập bất ngờ, không biết số phận của tôi và bao nhiêu người khác nữa rồi sẽ ra sao khi ánh bình minh của một ngày mới xuất hiện, Hy vọng sống còn chỉ là việc hiếm mọn nhỏ nhoi trong cái chết xảy đến mới là điều chắc chắn.
Tờ mờ sáng hôm sau, sau khi đã cạn hết nhiên liệu, chiếc ghe đành nằm chênh vênh trên mặt nước mênh mông vùng Tư Hiền, giữa rừng cờ giặc. Xa xa là những dãy núi chập chờn xanh thẳm của đỉnh đèo Hải Vân như réo gọi, mời mọc, thèm thuồng, tiếc rẻ. Và như số phận đã an bài, nhưng rồi cũng có lúc “chí tuy còn mong tiến bước mà sức không kham nổi đọan đường dài, sự nghiệp bao năm đeo đuổi thôi cũng đành gián đoạn từ đây... bởi đâu? do đâu? vì đâu?.
Giã từ vũ khí, ném súng xuống dòng sông định mệnh, ngồi chờ địch đến đổi đời lịch sử sang trang. Chúng tôi bị trói tay lùa lên bờ. Chúng tôi bị “giải phóng” tất cả quần áo, đồng hồ, dây chuyền, đồ đạc. Một vài người bị dẫn đi xử bắn dã man. Chúng tôi bị xỉ vả, đấu tố làm tay sai cho đế quốc. Chúng tôi không còn là chúng tôi nữa, chỉ vì chúng tôi là chiến sĩ QLVNCH bảo vệ miền Nam Tự Do, bị bỏ rơi lại phía sau thề sống chết thủy chung và chiến đấu hết mình. Cuộc đời tù đầy của vài ngàn quân cũng bắt đầu từ cái ngày đáng nhớ ấy... 27/3/75 tại một địa danh nhỏ, hẻo lánh, quen thuộc: thôn Vĩnh Lộc, Thừa Thiên, Huế ngay trên tổ quốc thân yêu của chúng tôi...
Mũ Xanh Phạm Văn Tiền

Thursday, August 12, 2010

Trung Tá Nguyễn Văn Long: Bảo Quốc công thần


   
Lê Xuân Nhuận & Duyên Anh & Nguyễn An Vinh   
 
Máu Trung Tá Long đã thấm xuống lòng đất mẹ.
 

Hình tuẫn tiết của anh hùng Nguyễn Văn Long, trung tá Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà
trong ngày 30-4-1975 dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến đối diện trụ sở Hạ Nghị Viên VNCH.

 
Ở tấm hình này, chiếc mũ đã bị ai đó lấy mất.


Hình tuẫn tiết của anh hùng Nguyễn Văn Long, trung tá Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà
trong ngày 30-4-1975 dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến đối diện trụ sở Hạ Nghị Viên VNCH.


Kính mời quý vị xem bài của Lê Xuân Nhuận: Trung Tá Nguyễn Văn Long

Cộng sản chiếm được Miền Nam đã mười năm rồi mà tôi vẫn còn tiếp-tục bị chúng kêu lên, kêu xuống hỏi cung. Tuy thế, nhờ những thời-gian đợi “đi làm việc” như thế tại các trại giam như Thanh-Liệt ở Hà-Nội; Kho-Đạn, Hội-An, và Hòa-Sơn ở Quảng-Nam; mà tôi có dịp gặp nhiều cán-bộ Việt-Cộng cấp cao bị bắt về tội “kinh-tế” hoặc “tham-ô” và cả “bạo-loạn” nữa, cũng như đồng-bào nhiều giới phạm tội “phản-động hiện-hành”, vượt biên, vượt biển, đưa hối-lộ, xâm-phạm hoặc phá-hoại tài-sản xã-hội chủ-nghĩa, vân vân, nên tôi biết nhiều và biết sớm những biến-cố xảy ra bên ngoài thế-giới “cải-tạo” hơn các anh chị em khác trong tù.

Tôi đã nghe tin trung-tá Nguyễn Văn Long tự-tử từ lâu. Nhưng vì có những trường-hợp sự thật khác với tin đồn; vả lại, biết đâu đó không là một người khác mà lại trùng tên với người mà tôi thân+thương; hơn nữa, anh Nguyễn Văn Long của tôi là một tín-đồ Ky-Tô-Giáo, lẽ nào lại tự hủy mình; do đó, tôi vừa âm-thầm đau-khổ về hoàn-cảnh chung, vừa bán-tín bán-nghi về phần anh Long. Đến khi tôi được nghe thêm hai viên thủ-trưởng - một thuộc Cục Xuất-Nhập-Khẩu 2 tại “thành phố Hồ Chí Minh”, một thuộc Ban Hậu-Cần Quân-Khu 5 - khẳng-định là họ có nghe đề-cập trong nội-bộ cơ-quan rằng, ngoài một số tướng-lĩnh Miền Nam đã tự-sát chứ không chịu đầu-hàng hay trốn chạy ra nước ngoài, có một trung-tá Cảnh-Sát tên Nguyễn Văn Long, từ Đà-Nẵng di-tản vào, đã tự-tử chết phía trước trụ-sở Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa, tôi mới tin chắc đó chính là anh Nguyễn Văn Long.

Anh Long vĩnh-biệt cõi đời giữa cảnh lửa-bỏng dầu-sôi, bạn-bè nói riêng và đồng-bào nói chung thì còn bận lo tự cứu lấy mình, trong khi kẻ thù thì càng thù hận anh thêm, lấy đâu có những vòng hoa và những nén nhang cùng những dòng lệ thương tiếc tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng.

Năm 1982, tại Trại bí-mật Thanh-Liệt, thuộc Huyện Thanh-Trì, Hà-Nội, là nơi giam-cứu các phần-tử quan-trọng nhất, mà đa-số là cán-bộ Đảng, Nhà-Nước và Bộ-Đội ở cấp Trung-Ương, do Bộ Nội-Vụ trực-tiếp quản-lý, tôi mới được một “bạn tù” cho biết thêm một chi-tiết quý-báu về cái chết hùng-vinh của trung-tá Nguyễn Văn Long. Đó là Phạm Trung Linh, một trung-tá bộ-đội Bắc-Việt, nguyên Trưởng Tiểu Ban Thanh Tra & Xét Khiếu Tố thuộc Trung Ương Cục Miền Nam - tổng-thư-ký của một tổ-chức đảo-chính quân-sự dự-định hành-động vào đêm 24 rạng ngày Nô-En năm 1979 nhưng bất-thành nên bị bắt cùng với một số tướng+tá và cán-bộ cao-cấp khác - xác-nhận rằng gã đã có trông thấy bức ảnh chụp cảnh trung-tá Nguyễn Văn Long mặc cảnh-phục chỉnh-tề nằm chết trước một tượng-đài Chiến-Sĩ Quốc-Gia phía trước trụ-sở Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa, in trên bìa trước của một tạp-chí Hoa-Kỳ, trong kho sách+báo ngoại-quốc mà Việt-Cộng ở một số cấp cao đã sưu-tầm để nghiên-cứu những gì có liên-quan đến Việt-Nam.

Thế là từ đó không những tôi nguôi tủi sầu mà trái lại còn cảm thấy lòng mình vui thỏa cho anh Long. Báo Mỹ mà đã đăng lên thì khắp thế-giới đều biết. Anh, cùng với những vị anh-hùng tuẫn-quốc khác trong biến-cố lịch-sử 30-4-1975, đã nói lên được hùng-hồn và cụ-thể tinh-thần bất-khuất của dân-tộc Việt-Nam yêu chuộng Tự-Do trước quyền-lực của cộng-sản bạo-tàn.

*

Thuở ấy, vào khoảng 1950, ở Miền Trung có hai hệ-thống an-ninh: một bên là Pháp với cơ-quan Sûreté fédérale (Liêm-Phóng Liên-Bang) và Police française (Cảnh-Sát Pháp), một bên là Việt-Nam với cơ-quan Công-An & Cảnh-Sát Quốc-Gia. Anh Nguyễn Văn Long tùng-sự bên Sûreté Fédérale (chính-trị) của Pháp, trong số vài người phụ-trách nội-ô Thần-Kinh; còn tôi thì bên Cảnh-Sát (hình-sự) của Việt-Nam. Tôi kiêm cả việc sáng-tác, ra báo, và dựng kịch cho sở-làm, và cho riêng mình.

Chúng tôi thường uống cà-phê ở quán Lạc-Sơn, nhà hàng lộ-thiên trên lề đại-lộ Trần Hưng-Đạo, quay lưng vào chợ Đông-Ba.

Nhân-viên hai bên không ưa gì nhau, nhưng gặp mặt mãi cũng thành quen nhau.

Dạo ấy, tôi viết cuốn truyện “Trai Thời Loạn” chống Pháp xâm-lược và Bảo-Đại bù-nhìn, nên bị bắt giam; sau nhờ phái-đoàn của các nhân-sĩ Cao Văn Tường, Cao Văn Chiểu, cùng với nhà-báo Phạm Bá Nguyên và cả Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được trả tự-do. Ra tù, tự-nhiên tôi được thiện-cảm của nhiều người hơn.

Một hôm, anh Long tâm-sự với tôi: “Tôi chống Việt-Minh nên lỡ vào làm với Tây; nay tôi đã quyết sẽ thôi để qua làm với người mình”.

Anh ít nói, không văn-hoa, lại lớn tuổi hơn tôi nhiều, mà đã nói thẳng với tôi như thế thì tôi hiểu rằng anh đã đau-lòng khổ-trí đến ngần nào trước thời-cuộc bấp-bênh của nước nhà. Trong thời-gian chờ-đợi, anh Long đã nghe theo lời thuyết-phục của tôi, bỏ qua cho nhiều bạn thơ của tôi, thí-dụ Nhất-Hiên, Vân-Sơn PMT, Như-Trị, v.v... mà Sûreté Fédérale đã định bắt giam. Liêm-Phóng Liên-Bang của Pháp mà đã bắt ai thì người ấy khó về được vẹn toàn.

Sau đó, anh đã chuyển qua Công-An Việt-Nam; và Vân-Sơn Phan Mỹ Trúc cũng như Như-Trị Bùi Chánh Thời thì vào Sài-Gòn; kẻ thành ký-giả tên tuổi, người nên luật-sư tài-danh.

Sau khi gia-nhập vào đúng hàng-ngũ thích-hợp để phụng thờ chính-nghĩa quốc-gia, trải qua mấy chục năm trời gắn bó với Lực-Lượng Cảnh-Sát & Công-An Việt-Nam Cộng-Hòa, anh Nguyễn Văn Long tận-tụy phục-vụ, và đã nổi tiếng là một trong số những cấp chỉ-huy tích-cực, cương-trực và liêm-khiết nhất trong ngành.

*

Tôi về lại Miền Trung đảm-trách Giám-Đốc Ngành Đặc-Cảnh tại Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I vào ngày 26 tháng 9 năm 1973. Tìm gặp lại các bạn cũ, thuộc lứa tuổi trên tứ-tuần, đã từng giữ các chức-vụ Trưởng Ty Công-An, Cảnh-Sát-Trưởng, Trưởng Ty CSQG trở lên, từ thời Bảo-Đại qua thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa đến nay, mà hiện còn lại tại Vùng này, tôi thấy chỉ có 6 người, trong đó có anh Nguyễn Văn Long.

Một số chưa có chức-vụ tương-xứng thì tôi nâng lên hoặc hợp-thức-hóa cho làm Phó Giám-Đốc, Chánh-Sở. Anh Long thì đã là một Chánh-Sở nắm Sở Tư-Pháp rồi, nên tôi không giúp gì về chức-vụ mà chỉ giúp về công-vụ mà thôi; những tin-tức về hình-sự mà tôi có được, thay vì xếp bỏ thì tôi chuyển qua cho anh. Tuy nhiên, đáp lại, chính anh giúp tôi nhiều hơn, rất nhiều, cả trong công-tác cụ-thể hằng ngày lẫn về phương-diện tinh-thần.

Anh Long tự-nguyện làm thêm nhiệm-vụ chính-trị – diệt-Cộng – ngoài phần-vụ chính của anh là truy lùng kẻ phạm-pháp về mặt hình. Là một tay cừ trong giới tình-báo cũ, anh đã nhân làm công-tác sưu-tầm về hình-phạm mà thu-thập thêm tin-tức về quốc-phạm, và đã cung-cấp cho ngành Đặc-Cảnh của tôi nhiều manh-mối về cộng-sản nằm vùng. Theo anh quan-niệm, đã là Cảnh-Sát Quốc-Gia, với chức-năng an-ninh trật-tự, thì phải góp phần trực-tiếp hoặc gián-tiếp vào lãnh-vực tình-báo, để phát-hiện và loại-trừ cộng-sản – mà trong giai-đoạn hiện-tại thì đối-tượng Việt-Cộng phải là ưu-tiên hàng đầu – để bảo-vệ và duy-trì an-ninh & trật-tự chung. Anh không thể chỉ tự bằng lòng với phận-sự tiễu-trừ tội-phạm xã-hội, mà phải tham-gia phần nào, trong khả-năng mình, vào trách-nhiệm thanh-trừng giặc loạn để giữ nước và cứu dân.

Qua thái-độ và hành-động chính-đáng của mình, trung-tá Nguyễn Văn Long đã mặc-nhiên gửi một thông-điệp, một lời nhắn-nhe tâm-huyết, đến những anh+chị+em đồng-nghiệp nào mà vì lý-do nào đó đã tự cho mình là Cảnh-Sát Sắc-Phục thì không dính-dấp gì về tình-báo, nhất là Cộng-Tặc Miền Nam và Cộng-Sản Bắc-Việt xâm-lăng.

Trung-Tâm Huấn-Luyện Tình-Báo của tôi nằm trên bãi biển Sơn-Chà, tuốt bên kia bờ Hàn-Giang. Lần nào khai-giảng hoặc bế-giảng khóa nào nhà-trường cũng đều có mời các cấp chỉ-huy cả Đặc-Cảnh lẫn Sắc-Phục đến dự. Về sau, tôi bỏ bớt tiệc mãn-khóa, chấm dứt tình-trạng bắt các học-viên góp tiền. Không còn tiệc-tùng, thì phần lớn quan-khách ngớt vãng-lai, viện cớ bận việc và đường quá xa; nhưng anh Long vẫn tiếp-tục đến dự – anh nói – để yểm-trợ tinh-thần chung.

Anh thăng cấp trước tôi, nhưng bao giờ cũng ý-tứ nhường tôi về ngôi thứ đứng+ngồi, nhất là trong các cuộc họp chính-thức có các cấp dưới từ các nơi về, vì chức-vị anh thấp hơn. Anh nói: mình phải nêu gương kỷ-luật cho thuộc-viên, mà mấu chốt của kỷ-luật là tôn-ti.

Về mặt tư-pháp, trung-tá Nguyễn Văn Long đã thực-hiện đúng khẩu-hiệu “pháp bất vị thân”. Ngay đối với chính đồng-nghiệp, bất-cứ nhân-viên cảnh-sát nào mà phạm tội hình-sự là anh truy-tố ra tòa thẳng tay – anh nói – để lành-mạnh-hóa nội-bộ, và nêu gương thượng-tôn luật-pháp cho người dân. Bởi thế, anh bị nhiều người gọi bằng cái tên “Long Lý”, ý nói anh chỉ biết chiếu-lý chứ không vị-tình.

Sau Hiệp-Định Paris 1973, tình-hình xã-hội Miền Nam thật là rối-ren. Bên ngoài thì Cộng-Sản Bắc-Việt công-khai ồ-ạt đổ thêm quân và chiến-cụ, vũ-khí vào tấn-công ta; bên trong thì các tổ-chức xưng-danh đối-lập và lợi-dụng tự-do quá-khích, tiếp tay với các phần-tử nằm vùng, ngày càng gia-tăng mức-độ và cường-độ gây hỗn-loạn trật-tự và làm suy-thoái tinh-thần các lực-lượng quốc-gia. Về mặt chính-trị, Cảnh sát Quốc Gia vừa phải đối-phó với các bộ-phận Đảng, Mặt-Trận, Nhà-Nước và Nhân-Dân của Cộng sản xâm lăng và “Việt-Cộng”, vừa phải chống-đỡ các phần-tử, phe nhóm chủ-bại và nội-ứng cho kẻ thù.

Về mặt tệ-đoan xã-hội, ung nhọt tràn lan khắp nơi. Riêng về nạn dịch nhũng-nhiễu tham-lam, công-tác đương-đầu đã gặp quá nhiều khó-khăn. Hầu như kẻ nào làm bậy cũng đều nấp dưới danh-nghĩa của một chính-đảng, tìm sự che-chở của một đoàn-thể hay một số cấp lãnh-đạo nào đó trong chính-quyền. Đụng vào họ, dù họ là kẻ phạm-pháp, có thể là tự rước lấy tai-họa vào mình. Thế mà anh Long đã dám xúc-tiến điều-tra, lập hồ-sơ truy-tố nhiều nhân-vật đáng sợ. Nhiều vụ lắm. Và vụ mà tôi thích nhất là vụ “tiền trợ-cấp dân Quảng-Trị tị-nạn”. Đại-khái như sau:

Đầu năm 1975, đồng-bào từ Tỉnh Quảng-Trị bắt đầu di-tản. Chính-quyền trung-ương tổ-chức đón tiếp và cứu-trợ họ tại trại tạm-cư Đà-Nẵng. Trên thực-tế, có người đã vào, có người vẫn còn ở lại ngoài kia. Do đó, có một tổ-chức quy-mô đứng ra lập hồ-sơ ma để lãnh các món cứu-trợ di-tản nhiều hơn bội-phần: tiền mặt, thực-phẩm, thuốc-men, áo+quần, giường+mùng chăn+chiếu, xi-măng, tôn, v.v..., cấp cho cả đồng-bào ở trại lẫn đồng-bào vẫn còn ở tỉnh cũ mà được chứng-nhận là đã nhập trại tạm-cư, do ngân-sách của Bộ Xã-Hội đài-thọ. Thậm chí, họ còn lập thêm hồ-sơ theo diện tị-nạn, dành cho đồng-bào dời cư từ các xã bất-an và xôi-đậu đến định-cư tại các xã an-ninh, để lãnh thêm loại trợ-cấp này vốn áp-dụng chung cho bất-cứ vùng quê nào. Chưa thỏa, họ còn chứng-nhận cho cũng những đồng-bào ấy là nguyên cơ-sở của Việt-Cộng ở vùng địch kiểm-soát, nay bỏ kẻ thù về với quốc-gia, để hưởng các khoản trợ-cấp loại này do Bộ Chiêu-Hồi cung-cấp định-kỳ, v.v... Ngoài ra, người dân di-tản cũng bị lôi-cuốn vào tình-trạng hỗn-tạp chung bên ngoài trại, lẫn-lộn giữa hợp-pháp và bất-hợp-pháp. Một số trở thành nhân-viên Chương-Trình Áo Xanh, do một tổ-chức xã-hội Hoa-Kỳ tài-trợ, cung-cấp việc làm cho người lao-động thất-nghiệp. Một số cũng là hội-viên Hội Cựu-Chiến-Binh và Dân-Phế, quy-tụ lính cũ đâu từ thời Pháp-thuộc, thời Nhật chiếm, thời kháng-Pháp, thời Bảo-Đại, và nạn-nhân các vụ tai-nạn lưu-thông, ẩu-đả, hủy-hoại thân-thể, tàn-tật bẩm-sinh, vân vân, nhưng cũng được lập hồ-sơ và lãnh đều đều từ một tổ-chức nhân-đạo Hoa-Kỳ những món viện-trợ tiền mặt, thực-phẩm, thuốc-men, đồ dùng, v.v... Hơn nữa, một số giả-danh là thương-phế-binh, cưỡng-thu “hụi chết” tại các hàng quán, bến xe. Phanh-phui vụ này lòi ra vụ kia. Tóm lại, một người lãnh nhiều trợ-cấp với nhiều tư-cách trong nhiều hoàn-cảnh khác nhau; nhưng chỉ lãnh được một ít, còn thì nạp vào túi riêng của bọn gian+tham.

Vụ án đã làm chấn-động dư-luận, vì dính đến nhiều cấp+chức thuộc nhiều giới, ngành, từ cấp tổ, toán, khóm, thôn, xã, phường, lên đến quận, tỉnh, vào thấu Sài-Gòn, là những phần-tử chứng-nhận láo, chấp-thuận bừa, do đó, đã phí-phạm công-quỹ và phá-hoại chính-sách của trung-ương.

Trong việc móc-nối đầu mối, nuôi-dưỡng đường dây, lắm lúc nhân-viên Đặc-Cảnh phải giao-tiếp với những kẻ bất-lương. Bởi thế, đã có một số trưởng mối bị trừng-phạt oan, vì phía Hình-Cảnh nghi là đồng-lõa hay đỡ đầu. Sau khi có thêm bộ-phận An-Ninh Cảnh-Lực, Đặc-Cảnh càng gặp nhiều khó-khăn hơn, đến nỗi Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương hồi đó là đại-tá Nguyễn Mâu đã phải lên tiếng phản-đối công-khai trước một đại-hội toàn-quốc, do Tổng Giám-Đốc chủ-tọa, nhưng chưa ngã-ngũ ra sao.

Với tôi, anh Long đã chịu nhượng-bộ: nếu gặp nhân-viên Đặc-Cảnh liên-can đến các vụ hình, anh để tùy tôi xét trước, để tránh oan-ức, trở-ngại cho công-tác chìm. Ấy là nhờ anh hiểu rõ phương-thức tình-báo và đặt nhu-cầu chống Cộng lên hàng ưu-tiên. Đó là quyết-định linh-động duy-nhất trong cương-vị Chánh Sở Tư-Pháp của anh Long.

*

Kỷ niệm đậm nét nhất trong đời tôi về anh Long là vụ rút lui ra khỏi Đà-Nẵng, thành-lũy cuối cùng của Quân-Khu I Việt-Nam Cộng-Hòa.

Lúc ấy vào khoảng 10 giờ tối ngày 28-3-1975.

Trên máy vô-tuyến truyền-tin thuộc hệ Cảnh-Sát Sắc-Phục nội-thành Đà-Nẵng, tôi nghe một đài gọi đài trung-ương, nhưng không có ai trả lời. Lát sau, có một đài khác cất tiếng: “Đừng gọi vô-ích, bọn chúng chạy hết cả rồi!” Tôi bèn hỏi đài hồi nãy, thì được báo-cáo là có nhiều người ăn mặc lộn-xộn, vũ-khí cầm tay, đang nép hai bên lề đường từ hướng Hòa-Cường tiến vào.

Tôi dùng làn sóng của hệ Đặc-Cảnh ra lệnh cho Sở Tác-Vụ Vùng và Sở Đặc-Cảnh sở-tại đối-phó, đồng-thời gọi máy điện-thoại cho đại-tá Nguyễn Xuân Lộc, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I, lúc ấy đang cùng có mặt với các Chánh-Sở Vùng và một số Chỉ-Huy Cảnh-Lực Tỉnh tập-trung tại đây.

Lát sau, anh Long đến ngồi tại phòng truyền-tin của Ngành Đặc-Cảnh Vùng - nơi đây có máy âm-thoại của cả 2 hệ nổi+chìm địa-phương lẫn hệ toàn-quốc, và máy điện-thoại bưu-điện, điện-thoại quân-sự - cách dăm mười phút lại gọi hỏi tôi tình-hình thế nào.

Vì máy quá bận, tôi khuyên anh vào phòng-giấy của đại-tá Lộc để cùng theo-dõi diễn-biến tình-hình chung.

Khoảng sau 11 giờ đêm, từ đài Đặc-Cảnh Vùng I trung-tá Long gọi tôi. Lần nầy tôi nghe giọng anh run lên, lời-lẽ trịnh-trọng khác thường: “Tôi xin mời ông Phụ-Tá đến ngay để tổ-chức phòng-tuyến và chỉ-huy đội-ngũ tử-thủ cùng với anh+em chúng tôi!” (Tử-thủ là lời cam-kết của trung-tướng Ngô Quang Trưởng đọc trên Đài Phát-Thanh Đà-Nẵng suốt chiều hôm nay).

Tôi hỏi về đại-tá Lộc thì anh đáp gọn với giọng bực-tức và chán-chường: “Các ngài đào-ngũ hết rồi!”

Anh Long kể lại với tôi là anh được lệnh, cùng với mọi người có mặt tại trụ-sở Vùng – Chánh-Sở các Sở, Chỉ-Huy của một số tỉnh, có cả mấy viên đại-tá quân-đội – theo đại-tá Lộc xuống bến Giang-Cảnh, lên tàu Giang-Cảnh, rời bến hướng ra biển Đông.

Anh hỏi đi đâu thì đại-tá Lộc trả lời: “Chúng ta di-tản vào Nam!” Anh thấy máu uất xông lên đỉnh đầu, la lên: “Giặc chưa tấn-công, thuộc-viên vẫn còn ở lại, mà cấp chỉ-huy đã lén-lút bỏ đi như thế này là hèn!” Lộc cố giải-thích: “Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn đã rút đi rồi. Trong tình-huống này chúng ta đành phải phụ lòng anh+em mà thôi!” Long bèn rút súng, nhìn thẳng vào mặt từng người với vẻ khinh thường, và bảo tàu ghé vào bờ cho anh trở lui.

Và anh đã về trụ-sở, để cùng chiến-đấu, sống chết có nhau với anh+em.

TôiI tin-tưởng và kính-phục anh Long vô cùng; nhưng tôi thấy rõ là nếu đến sở thì sẽ dính kẹt ở đó, khó lòng điều-động hoạt-động bên ngoài, nên nói là tôi bận họp. Anh xin mượn tôi một máy vô-tuyến cầm tay, và đòi đến họp với tôi.

Tôi kéo thiếu-tá Ngô Phi Đạm, Chánh Sở Tác-Vụ, ra xe. Đến bến Bạch-Đằng quả thấy xe Jeep xanh+trắng và ô-liu bỏ đậu nghênh-ngang; gọi máy vô-tuyến trên hệ Sắc-Phục đến đại-tá Lộc ở sở, ở nhà, không ai trả lời; tôi bèn chỉ-thị Trung-Tâm Hành-Quân Đặc-Cảnh báo-cáo sự-việc lên trung-ương.

Anh Long đã đến nhà tôi, hỏi tôi ở đâu, tôi đáp là đến Đặc-Khu, nhưng tôi đến Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn; nơi đây vắng hoe. Anh hỏi, tôi đáp là vào phi-trường, nhưng tôi đến Sở An-Ninh Quân-Đội; nơi đây cũng chẳng còn ai. Anh không gặp tôi, lại hỏi; và tôi lại dối, tránh anh. Cứ thế mà tôi đến khắp các nơi vốn là chỗ dựa cho niềm tin của dân-nhân.

Đến sau nửa đêm thì cả thành-phố đổ dồn qua cầu Trịnh Minh Thế để qua bến cảng, bãi biển Quận III, để mong chạy vào Sài-Gòn. Tôi cùng Tác-Vụ, Thám-Sát Đặc-Biệt, quan-sát xong tình-hình bên đó, len lách trở về thì thoáng dưới ánh đèn pha thấy rõ hình-dáng của anh, mặc cảnh-chiến-phục, gác khẩu M-16 ngang đùi, mặt-mày đỏ gay, tức uất nhưng đầy cương-nghị, lái xe vụt qua.

Đó là hình-ảnh cuối cùng của trung-tá Nguyễn Văn Long, mãi mãi hằn sâu trong ký-ức tôi.

*

Gần sáng, ngày 29-3-1975, Việt-Cộng pháo-kích hải-cảng, phi-trường. Mờ sáng, đặc-công từ hướng Núi Non-Nước bắt đầu tấn-công vào. Đến trưa, tôi gọi máy về cho đại-úy Nguyễn Văn Tuyên, Chánh Sở Nghiên+Kế, lúc đó còn ngồi tại chỗ, ra lệnh giải-tán Trung-Tâm Hành-Quân của Đặc-Cảnh Vùng I, là bộ-phận cuối-cùng của Chính- Quyền VNCH còn hoạt-động đến phút cuối cùng, và cho phép thuộc-viên tự tìm phương-tiện thoát thân. Xế chiều, tôi mới kiếm được chiếc thúng, rời bờ, liều-lĩnh trước các làn đạn pháo-kích của địch và trực-xạ của chính bạn mình.

Và tôi không còn gặp lại anh Long.

*

Cái chết của trung-tá Cảnh-Sát Nguyễn Văn Long làm tôi suy-nghĩ rất nhiều.

Anh đã phục-vụ dưới nhiều chế-độ khác nhau, đảm-trách công-tác ở nhiều lĩnh-vực khác nhau, nhưng vẫn giữ mình trung-chính khiết-liêm. Anh tuy lớn tuổi nhưng vẫn trẻ-trung trong lối sống và trong công việc, không bị lứa trẻ sau này vượt qua.

Trong lúc nước nhà đang bị cộng-sản xâm-lăng, anh ý-thức được chúng là kẻ thù số một của toàn-dân, sự-nghiệp chống Cộng phải là ưu-tiên số một của mọi người yêu quý tự-do, nên anh phải góp phần vào. Thành-quả chống Cộng của CSQG nói chung, là đã có lúc hạ được nhiều tên cộng-tặc hơn cả con số chúng bị thiệt-hại trên chiến-trường, do đó, anh tự nhận lãnh vào bản-thân mình một phần trách-nhiệm đối với đối-phương về những tổn-thất mà chúng hứng chịu nặng-nề; nhưng trên tất cả là sự sụp đổ thảm-khốc của Việt-Nam Cộng-Hòa, mà đối với tổ-quốc, dân-tộc, lịch-sử, và thế-giới, thì cái trách-nhiệm vô cùng lớn-lao ấy nhất-định là của mọi người, trong đó có anh; nên anh tự xử - cũng như các anh-hùng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, vân vân - để tạ tội với tiền-nhân và quốc-dân, và để nói lên tinh-thần bất-khuất của người chiến-sĩ tự-do, không chịu hạ mình đầu-hàng kẻ thù.

Cái chết của anh Long làm tôi hãnh-diện vô cùng. Tuy người chết không mong được đời nhắc đến, nhưng bổn-phận của người sống là phải phát-huy những tấm gương trí-dũng ngời sáng ấy, để nhờ đó mà mình tin-tưởng và phấn-khởi tiếp-tục lo toan sự-nghiệp chung.

Bây giờ, đối với toàn-dân, Nguyễn Văn Long không còn là một trung-tá, là một Chánh-Sở Tư-Pháp, là một viên-chức an-ninh, là những gì gì khác nữa... mà anh đã là và vẫn còn là đại-diện cho bất-cứ chiến-hữu ưu-tú nào, không phân-biệt cấp/bậc, chức-vụ, ngành/nghề, hình-sự hay phản-gián, phái mạnh hay phái đẹp; mà anh đã vinh-quang đi vào lịch-sử với tư-cách một anh-hùng của dân-tộc Việt-Nam nói chung và Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia nói riêng.


Kính mời quý vị xem bài của Duyên Anh: Máu Trung Tá Long đã thấm xuống lòng đất mẹ

Tôi không hiểu, trong Dinh Độc Lập, Dương văn Minh và bọn hàng thần lơ láo đến mức độ nào trước ống kính xấc xược của bọn phóng viên cộng sản và trước những câu hạch hỏi hỗn láo của bộ đội giải phóng cấp tá. Họ có nghe những tiếng súng danh dự, trách nhiệm, tổ quốc của lính văn nghệ diệt T-54 ở cầu Thị Nghè, của lính nhẩy dù cách cổng Dinh Độc Lập chẳng bao xa? Chúng tôi vào trung tâm thành phố. Dân chúng đang bu kín công viên dựng hai người chiến sĩ thủy quân lục chiến Việt Nam họng súng nhắm thằng vào Hạ Viện. Những chiếc loa gắn trên cây cao đã oang oang giọng nói mới chào mừng giải phóng miền Nam. Bài hát Tiến vào Sài gòn ta quét sạch giặc thù muốn rung chuyển thành phố. Nhưng trời vẫn thiếu nắng. Cộng sản đã tiếp thu Đài phát thanh, Bưu điện... Giọng nói cầy cáo của Lý Quý Chung và ca khúc Nối vòng tay lớn không còn nữa.

Chúng tôi lách đám đông. Dưới chân tượng đài của thủy quân lục chiến, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra tươi rói. Người sĩ quan cảnh sát đeo lon Trung tá. ông ta mặc đồng phục màu xanh. Nắp túi ngực in chữ Long. Trung tá cảnh sát Long đã tự sát ở đây Cộng sản để mặc ông ta nằm gối đầu trên vũng máu. Phóng viên truyền hình Pháp quay rất lâu cảnh này. Lúc tôi đến là 14 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm trung tá Long, nước mắt đầm đìa. Những người không khóc thì mắt đỏ hoe, chớp nhanh. Tất cả im lặng, thây kệ những bài ca cách mạng, những lởi hoan hô bộ đội giải phóng.

Trung tá Long đã chọn đúng chỗ để tuẫn tiết. Tướng giữ thành Sài gòn là Tổng trấn Sài gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài gòn là Đô trưởng Sài gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài gòn là Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia đã đào ngũ. Không có Hoàng Diệu, ở những trạng lịch sử chó đẻ của thời đại chúng ta. Và trên những tiểu thuyết đấu tranh, những hồi ký chiến đấu của những con người tự nhởn sống hùng mọi hoàn cảnh, người ta không thấy một dòng nào viết về cái chết tuyệt vời của trung tá Cảnh sát tên Long. Cộng sản đã chẳng ngu dại phong anh hùng, liệt sĩ cho quốc gia. Họ độc quyền anh hùng, liệt sĩ. Ở những cuộc đấu thầu anh hùng, liệt sĩ quốc gia tại hải ngoại, chưa thấy một nén tâm hương tưởng mộ trung tá Long. Có lẽ, liệt sĩ đích thật không lãi lớn bằng liệt sĩ giả vờ thế thì thời đại chúng ta đang sống là cái thời đại gì nhỉ? Nó không chịu, không thích vinh tôn cái thật, đã đành, nó còn nhởn chìm cái thật và vấy bẩn lên cái thật một cách thô bạo, ẩn ý và lạnh lùng. Khi cái thật bị nhận chìm, bị vấy bẩn, cái giả nổi bật, sáng giá và chói lọi, thơm tho. Như vậy, mọi giá trị về tinh thần, về đạo nghĩa bị nhởn chìm theo. Rốt cuộc, bọn giả hình sống với cái giả của chúng, huyễn hoặc mọi người bằng cái giả với bạo lực của quyền uy hợp pháp và cả quyền uy ảo tưởng hậu thuẫn. Và người công chính thụ động, buông xuôi. Cuối cùng, con cháu chúng ta sẽ chỉ biết liệt sĩ đất sét, anh hùng gian dối, vĩ nhân phường tuồng.

Tôi muốn biểu dương trung tá Long như Hoàng Diệu hôm nay, Hoàng Diệu của Sài gòn. ông ta đang nằm kia, dưới chân tượng đài thủy quân lục chiến Việt Nam anh dũng. Máu trung tá Long đã thấm xuống lòng đất mẹ. Cái chết của trung tá Long nếu chưa thức tỉnh được sự u mê của thế giới tự do thân cộng, của bọn phản chiến làm dáng thì, ít ra, nó cũng biểu lộ cái khí phách của một sĩ quan Việt Nam không biết hàng giặc. Tôi không mấy hy vọng cái chết của trung tá Long lay động nổi cái bóng tối vô liêm sỉ trùm đặc tâm hồn những ông tướng đào ngũ. Chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam lưu vong vì chúng ta còn trung tá Long không đào ngũ, không đầu hàng giặc và biết chết cho danh dự miền Nam, danh dự của tổ quốc.

- Tôi chứng kiến tự phút đầu.

- Ông nói sao?

- Tôi nhìn rõ ông ta rút súng bắn vào thái dương mình.

- Thật chứ?

- Đáng lẽ tôi phải nói dối.

- Tại sao?

- Vì nói thật lúc này không có lợi.

Tôi nghe hai người Sài gòn nói chuyện. Và tôi được nghe "Huyền sử một người mang tên Long" do một trong hai người kể. Truyện như vầy: 10 giờ 30, Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng, quân đội và cảnh sát tuân lệnh Tổng thống, lột quần áo, giầy vớ, nón mũ, vất súng đạn bỏ chạy về nhà mình hay nhà thân nhân của mình. Một mình trung tá Long không lột chiến bào, không phi tang tích huân chương, không liệng súng đạn. Trung tá Long từ nơi nào đến, chẳng ai rõ. ông xuất hiện ở công viên trước Hạ Viện hồi 12 giờ. Ngồi trên ghế đá, ông ta trầm ngâm hút thuốc. Rồi ông ta nhìn trước, nhìn sau, ngó ngang, ngó dọc. Rồi ông ta đưa tay ôm lấy đầu, cúi thấp. Khi ấy, Sài gòn đã ồn ào tiếng hoan hô cộng sản giải phóng. Bất chợt, ông ta đứng dậy, chậm rãi bước gần chân tượng đài. Trung tá Long đứng thẳng. ông ta ngẩng mặt. Thản nhiên, ông ta rút khẩu Colt, kê họng súng vào thái dương mình bóp cò. Tiếng đạn nổ trùm lấp tiếng hoan hô cộng sản. Trung tá Long đổ rạp.

- Đó, diễn tiến cái chết của Trung Tá Long.

- Ông có mặt ở đây trước lúc trung tá Long xuất hiện?

- Phải. Tôi tuyệt vọng, không thiết về nhà nữa.

- Rồi sao?

- Dân chúng bu quanh xác trung tá Long. Cộng sản chưa có thì giờ kéo xác ông ta đi. Phóng viên truyền hình Pháp thu cảnh này kỹ lắm. Chỉ tiếc họ đã không thu được cái oai phong lẫm liệt của trung tá Long. Họ đến quá chậm và họ chỉ quay phim một xác chết. ông hãy nhìn cho kỹ. Trung Tá Long tuẫn tiết cùng chiến bào, cùng cấp bậc, cùng tên mình.

Tôi đã nhìn kỹ. Lịch sử của chúng ta đã có những vị anh hùng chỉ có tên mà không có họ. Như Đô đốc Tuyết, Đô đốc Long... Hôm nay, chúng ta có thêm trung tá Long. Những ai sẽ viết lịch sử? Và liệu sử gia đời sau có soi tỏ niềm u ẩn của Trung tá Long chảy máu mắt nhìn quê hương lạc vào tay quân thù mà bất lực cứu quê hương, mà chỉ còn biết đem cái chết tạ tội quê hương, dân tộc. Đã hàng tỉ tỉ chữ viết về những chuyện khốn nạn, viết về những tên khốn kiếp, viết về những sự việc khốn cùng. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long? Người ta đã viết cả pho sách dày cộm để nguyền rủa xác chết. Người ta cũng đã viết cả pho sách dầy cộm để suy tôn xác sống. Người ta ồn ào. Người ta vo ve. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long? Ai đã làm công việc sưu tầm lý lịch đầy đủ của vị liệt sĩ đích thực này? Than ôi, lịch sử đã hóa thành huyền sử. Cho nên người ta nhìn quốc kỳ mà không cảm giác linh hồn tổ quốc phấp phới bay. Chúng ta đang bị sống trong cái thời đại của những ông tướng đào ngũ, của những ông tổng trưởng đào nhiệm không hề biết xấu hổ. Thời đại của chúng ta còn đòi đoạn ở chỗ, kẻ sĩ và kẻ vô lại đồng hóa trong "lý tưởng" nguyền rủa xác chết và suy tôn xác sống.

Xưa, Hàm Nghi 8 tuổi, hỏi cận thần:

- Tay bẩn lấy gì rửa? Cận thần đáp:

- Nước.

Hàm Nghi hỏi thêm:

- Nước bẩn lấy gì rửa?

Cận thần ngơ ngác:

- Tâu bệ hạ, thần không hiểu.

Hàm Nghi nói:

- Nước bẩn lấy máu mà rửa!

Trung tá Long đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính nhẩy dù đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính văn nghệ đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Những kẻ tạo ra ô nhục 30-4 lấy gì nhỉ? Họ đang cầm ca, cầm đĩa xếp hàng ngửa tay lấy cơm, lấy nước ở đảo Guam. Biết đâu chẳng xẩy ra tranh cơm như tranh quyền bính. Và biết đâu chẳng bị ông quân cảnh Mỹ đen tặng một vài cái tát xiếc! Những kẻ này vẫn thừa thãi vô liêm sỉ để họp bàn, hiến kết cứu nước. Lịch sử lại thêm vài phụ trang chó đẻ.

Giải phóng quân đã đổ đầy trước thềm Hạ Viện. Cỏ đuôi chó hoan hô tưng bừng. Dân chúng chiêm ngưỡng Trung Tá Long tản mạn. Trung Tá Long nằm nguyên chỗ ông ngã rạp cho máu rửa nhục Sài gòn. Giã từ liệt sĩ! Vĩnh quyết liệt sĩ. Xin hãy phù hộ tôi kéo dài cuộc sống hèn để có ngày được viết vài dòng về Trung Tá.

BBT: Qua nhiều bài viết về Trung Tá Nguyễn Văn Long mà chúng tôi có dịp đọc trước đây, chúng tôi vẫn cảm thấy có điều gì đó còn thiếu sót, nếu không muốn nói là chưa thỏa mãn được những gì mà chúng ta muốn biết về Trung Tá Long. Người mà chúng tôi nghĩ đến có thể bổ túc cho những thiếu sót đó không ai khác hơn là cựu Trung Tá Nguyễn An Vinh, nguyên Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc gia Đà Nẳng, người đã có thời gian dài được gần gũi với Trung Tá Long, trong phạm vi Bộ Chỉ Huy Khu I, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Kính mời quý vị xem bài của cựu Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Nguyễn An Vinh

Sau chính biến 1 tháng 11 năm 1963 lật đổ nền Ðệ nhất Cộng Hòa, Quốc Gia trải qua một thời kỳ hỗn lọan. Tại miền Trung, đặc biệt là Thừa Thiên Huế, họat động ngành an ninh trật tự hoàn toàn tê liệt. Chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm mà đã thay đổi sáu Giám-Ðốc Nha Công An. Có ông chỉ tại chức 32 ngày. Hai Trưởng Ty Công An Thừa Thiên và Cảnh Sát Huế đều là cơ sở nòng cốt Cộng Sản, một vài tay chân của nhóm Phật Giáo Ấn Quang tranh đấu ly khai xuống đường phá rối. An ninh trật tự hoàn toàn suy sụp.

Ðể đối phó với tình hình rối ren của vùng I, tháng 6 năm 1966 Trung Ương quyết-định bổ nhiệm Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, và ngay lập tức, ông cho chấn chỉnh lại những hoạt động của Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia tại địa phương đầy biến động này, đồng thời bổ nhiệm Quận Trưởng Cảnh-Sát Võ Lương giữ chức Giám-Ðốc Cảnh Sát Quốc-Gia Vùng. Quận Trưởng Cảnh Sát Võ Lương là Giám-Ðốc thứ bảy kể từ năm 1963 và là người đầu tiên giữ vững đựơc kỷ cương trật tự sau một thời gian hỗn loạn quá dài. Ðể mau chóng ổn định nhân-sự cũng như họat động, Ông cho lệnh di chuyển Nha CSQG từ Huế vào Ðà-Nẳng. Ông cho tất cả nhân viên dễ dàng trong một tháng để thu xếp gia-đình.

Trong vòng một tháng đó, phần đông nhân-viên đã có đủ thì giờ để ổn định việc nhà cửa và chuyện con cái học hành. Chỉ riêng Trung Tá Long, lúc ấy vừa được bổ nhiệm chức Chủ-Sự Phòng An Ninh Nội Bộ kiêm Thanh Tra, là còn loay hoay chưa kiếm ra nơi tá túc cho gia-đình. Hết hạn 1 tháng, Ông không thèm xoay sở nữa mà đã sáng kiến thực hiện một việc cổ kim không giống ai:

Thấy có một khoảng đất công trống trên đường Duy Tân, giữa lòng Thành Phố, Ông dựng lên một cái chái lợp tôn, dựa lưng vào bức tường thành của một Công Sở. Ðó là nơi gia đình ông đang cư trú, không điện không nước.

Có hai nhân viên thuộc quyền ghé thăm thấy cả nhà ban đêm thắp hai ngọn đèn dầu lù mù, họ rủ nhau hùn tiền mua đến cho ông một cái đèn Manchon. Ông từ chối nhất định không lấy, nói thế nào ông cũng không chịu, bắt họ đem đi trả lại.

Câu chuyện nhà ông Long thắp đèn dầu được nhiều người kể đi kể lại ở sở. Một hôm nhân có dịp ngồi chung xe với ông Giám Ðốc lên họp Quân Ðoàn, tôi kể Ông nghe câu chuyện về cái đèn Manchon. Ông Giám Đốc lắc đầu nói: “...tính của Long là vậy, tôi biết chả từ lâu, từ hồi còn làm bên Công An Liên Bang. Ðó là một người rất tốt, thanh liêm và cương trực, đông con nhà nghèo...”. Từ lúc đó cho đến khi vào họp Ông không nói thêm lời nào. Ông lặng lẽ, dường như có điều tính toán suy nghĩ, ngó mông lung ra ngoài đường. Tuần lễ sau, tôi ghé nhà Long thăm đã thấy có điện nước. Hỏi ra thì biết trong lúc Ông Long đi làm, có 2 người tới bắt cho 2 bóng đèn và 2 lỗ cắm điện, một vòi nước. Họ không lấy tiền cũng không cho biết ai sai tới. Tôi biết ngay là do sự can thiệp kín đáo của Ông Giám đốc. Biết Ông không ra mặt tôi cũng làm thinh luôn.

Liền sau đó, trong một phiên họp khoáng đại, ông Giám Ðốc hỏi nhỏ tôi, nhà Long có điện chưa. Tôi trả lời có rồi, có cả nước nữa. Ông gật đầu, mỉn cười nhìn về phía Long, nét mặt hiền lành khoan dung. Ông vui vì đã giúp được thuộc cấp một việc tuy nhỏ nhưng rất cấp bách cần thiết. Tính Ông quảng đại, kín đáo và chi-tiết. Nhiều khi làm ơn từ việc nhỏ đến việc lớn, không cần cho ai biết.

Dạo ấy, vì cơ sở mới dọn từ Huế vào, phòng ốc chưa đủ, Ông Giám-đốc cũng không có tư dinh phải ở tạm một phòng trong khách sạn Grand Hotel trên đường Bạch Ðằng. Trong khách sạn có sẵn Restaurant. Ông thường dùng bữa vớí nhiều viên chức khác ngành, vừa ăn vừa luận bàn công việc. Những lúc không mời ai, Ông gọi tôi tới ăn cơm chung. Nhờ có chút khả năng giao-thiệp, quen biết nhiều người và luôn sẵn những chuyện tếu vô hại, Ông thường ngồi nhiều giờ với tôi, bàn về đủ mọi thứ, phần lớn là những việc trên trời dưới đất, không dính dấp gì tới công vụ. Nhân một lúc vui vẻ, cởi mở, tôi nhắc lại chuyện Trung Tá Long và hỏi Ông lý do không cho Long biết việc Ông can thiệp bắt điện nước vào nhà. Ông cườì rồi từ từ kể. Sau đây là những gì Ông Giám đốc Võ Lương nói về Trung Tá Nguyễn văn Long:

“...Tôi biết Long từ những thập niên 1940, khi Giả ( tiếng thông dụng miền Trung có nghĩa là Anh ấy, Ông ấy ) mới gia-nhập Ngành An ninh thời Tây. Giả nổi tiếng1à siêng năng cần mẫn, kỷ-luật và trong sạch. Lương bổng không đến nỗi tệ nhưng gia-đình đông con lại suốt đời không tơ hào những bổng lộc phi nghĩa nên thời nào cũng nghèo. Cả đời ở nhà mướn. Ðúng ra, trước năm 1963 Giả cũng có một căn nhà tương đối được, ở đường Phạm Hồng Thái, Thành Phố Huế. Nhà này có từ nhiều năm trước, có thể do cha mẹ để lạị. Trước đảo chánh Ông Diệm, Giả bị bắt giam trong vụ Gián Ðiệp Miền Trung do Phan Quang Ðông điều tra khai thác. Trong thời gian bị ngưng chức không lương tiền hàng tháng, bà vợ đã phải bán căn nhà này để đong gạo cho gia đình...

...Giả sống rất chừng mực, lương thiện, không có khả năng xoay xở, lại càng không muốn xoay xở bậy bạ. Nhũng lúc gặp khó khăn thì cắn răng chịu đựng, không hề muốn nhờ vả ai. Giả rất khó chịu khi phải chịu ơn người khác. Ðiều này giải thích được tại sao tôi không trực tiếp cho biết đã nhờ người bắt điện nước cho gia đình Giả. Chuyện nhỏ không muốn Giả có mặc cảm mang ơn....

... Là viên chức kỳ cựu, phuc vụ trong ngành đã hơn 20 năm, Long có khá nhiều cơ hội để khá hơn, nhưng cơ hội nào Giả cũng bỏ qua, có khi còn quyết liệt từ chối thẳng tay, nên đến bây giờ vẫn sống chật hẹp với đồng lương của một công chức.

... Giả bị bắt giam trong vụ Gián Ðiệp Miền Trung năm 1962 nên sau khi Chính Phủ Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, Long được cử ngay làm Trưởng Ban Công Tác Ðặc nhiệm điều tra tội ác và tài sản chế độ cũ cũng như của nhóm Cần Lao. Nhiều người cứ tưởng dịp này Long tha hồ ân oán giang hồ. Nhưng trái với mọi suy đoán, Long hành xử trách nhiệm hoàn toàn vô tư, không nghe lời xúc xiểm, không thành kiến, cũng như không bới lông tìm vết. Ðể tránh mấy tay môi giới chạy chọt xin xỏ đút lót lôi thôi, Long cắm trại luôn trong sở, thật khuya mớí lạch cạch đạp xe về nhà. Dạo ấy cả gia-đình đã theo đạo Công Giáo, nhà thuê ngay kế bên Dòng Chúa Cứu Thế Huế.. Nhà Long cữa đóng then cài. Long không tiếp bất cứ ai.

...Năm 1965, Long đưọc bổ nhiệm làm Trưởng Ty Công an Ðặc Biệt Bến Hải, đóng dọc theo Nam Vĩ Tuyến 17 thuộc Quận Trung Lương, Tỉnh Quảng Trị. Nhận việc chưa bao lâu thì Phòng Lương Bổng, Vật Liệu , Kế Toán đưa cho Giả một phong bì đầy tiền. Long hỏi cái gì thì họ cho biết, như thông lệ từ trước, đây là số tiền bán bớt xăng nhớt và văn phòng phẩm nạp cho Trưởng Ty làm mật phí giao tế. Giả đỏ mặt, trợn mắt đòi bỏ tù cả đám. Từ đó hết ai dám léng phéng chuyện tiền nong lem nhem với Long...”

Kể đến đây Ông Giám Ðốc cườì thành tiếng và nói đùa: “...Nếu Long chịu nhận vàì ba mớ phong bì như thế thì đâu đến nỗi bây giờ phải cắm dùi đường Duy Tân. Nên nhớ Long đang là chức Trưởng Ty khi được lệnh di chuyển từ Quảng Trị vào Ðà-Nẵng. Một Ông Tưởng Ty mà ngày trước ngày sau phải ở bụi ở đường thì thế gian chỉ có một Nguyễn văn Long mà thôi, không có người thứ hai. Bổ nhiệm Long vào chức An Ninh Nội Bộ và Thanh Tra, tôi yên tâm nhưng cũng có nhiều anh khó chịu không vui đấy...”

Khi tôi hỏi về Vụ Gián Ðiệp Miền Trung , Ông cho biết vụ ấy không hẳn là có thật mà chỉ do Pháp cố ý dựng chuyện lên để phá thối. Công việc của Phan Quang Ðông là huấn luyện và tung mạng lưới tình báo gián điệp ra Bắc hoạt động vùng Thanh Nghệ Tĩnh mà thôi. Ðông không dính líu gì đến vấn đề nội chính và an ninh quốc nội. Ðông bị xử tử hình để bịt miệng, do áp lực từ Cộng Sản trong nhóm tranh đấu, gây rối Mìền Trung. Không có vụ gián điệp thì Ðông cũng bị giết.

Hình như Long biết sự kiện này cho nên ngày xử bắn Phan Quang Ðông tại Sân Vận Ðộng Chi Lăng, mấy người bạn cùng vụ rủ Long đi coi, Long từ chối. Long nói: “...chuyện Ðông có những điều chưa minh bạch, xét xử vội vàng và có quá nhiều áp lực. Ðông đâu đáng tội chết! Vả lại oán thù nên cởi, không nên buộc... Ông Giám Ðốc kết luận:...Long khắt khe sắt thép với chính mình nhưng khoan dung nhân hậu, công bằng và rộng lượng với kẻ khác, cả với kẻ vừa mới giam giữ mình...”

Năm 1970 , tôi bàn giao chức Chỉ Huy Trưởng cho Thiếu Tá Trần Hàng để ra Ðà-Nẵng. Vừa nhận việc chưa được bao lâu thì Thành Phố chịu một cơn bão lụt Sóng Thần khủng khiếp chưa từng thấy trong cả trăm năm. Mưa như trút nước. Sóng biển gầm thét dữ dội. Một phần đường trong thành phố ngập nước quá đầu gối. Giáp ranh phía Bắc Thành Phố là Bãi Thanh Bình thành một vùng nước mênh mông. Nhưng ngặt nghèo và nguy hiểm nhất là khu tạm cư Ngọc Quang. Khu này là một giải cát bồi thoai thoảỉ nằm dài giửa Bãi Thanh Bình và biển cả, không một bóng cây. Từ tầm xa nhìn tới , toàn khu hoàn toàn biến mất, chỉ còn thấy lác đác ít nóc nhà nhấp nhô theo sóng dữ. Gió rất mạnh, thổi giật từng cơn. Bộ Chỉ Huy Cành Sát Quốc Gia huy động toàn bộ lực lượng cơ hữu như Giang Ðoàn và trưng dụng thêm một số ghe thuyền tư nhân trong nỗ lực di tản dân chúng vào khu an toàn, lúc ấy là sân Trường Kỹ Thuật ở đường Cao Thắng và chung quanh 2 Thánh Ðường Họ Giáo Ngọc Quang và Giáo Xứ Thanh Ðức.

Qua máy truyền tin, Giang Ðoàn cho tôi biết gia-đình Trung Tá Long ở vào một khu nguy hiểm nhất. Nhà có thể bị cuốn trôi ra biển bất cứ lúc nào. Cả gia-đình đã lên được đất liền nhưng Trung Tá Long đang ngồi trên một cái chõng tre, tay cầm chai rượu thuốc, nói là để ở lại giữ nhà, không chịu đi đâu hết. Tôi nghe mà lạnh người. Cũng lại cái “Ông Trời sợ” này nữa. Tôi không thể quên vụ Ông cắm dùi ở đường Duy Tân năm nào và việc Ông Giám Ðốc Võ Lương kín đáo giúp đỡ bắt điện nước cho Long.

Tôi nhờ Giang Ðoàn ra tận nơi, đưa máy truyền tin cho tôi nói chuyện với Long. Nghe tiếng tôi, Ông nói ngay: Chào Ông Chỉ Huy Trưởng, tôi không sao đâu. Sau một hồi giải thích gần như năn nỉ, cuối cùng phải viện dẫn lý do an ninh cũng như xin Ông hợp tác để làm gương cho đồng bào. Cuối cùng Ông mới chịu vào bờ.

Dọn dẹp bão lụt xong, dân chúng lo sửa sang những thứ đỗ nát. Tôi điện thoại cho Ông hỏi thăm nhà cửa hư hại ra sao. Ông trả lời tỉnh bơ: Nhà chỉ có mấy tấm ván, xẹp xuống rồi dựng lại lên, có chi mà hư hại. Tuần này tôi xin nghỉ mấy ngày phép và mất một mớ đinh là xong ngay.Tôi bái phục cái thái độ bình tâm giản dị gần như bất cần của Ông, nhưng quyết định phải ra tận nơi coi cho biết. Tôi mặc thường phục cùng với mấy tay bài trừ du đãng đi Honda, luồn lách ra Ngọc Quang. Tới nhà Ông Long, tôi hết hồn.

Căn nhà của Ông chỉ là một tác phẩm chắp nối vội vàng và lỏng lẻo gồm mọi thứ tạp nhạp không đáng gọi là vật liệu, góp nhặt từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Nhà nằm lọt vào khu vực tạm cư hỗn độn gồm các gia đình đổ về từ những vùng quê Quảng Nam mất an ninh. Giây điện và giây phơi áo quần chằng chịt. Rất mau, tôi vụt nhớ đến một bản báo cáo của Cảnh Sát Ðặc Biệt về việc Cộng Sản cài người vào dân tị nạn và vụ xe ông Trưởng Phòng Ðặc Biệt Nha tên Diệp đi mua vật liệu bên Quận Ba bị đặt Plastic chết banh xác trên gần Chợ Cồn năm nào. Thương Ông, tôi nhất định phải đưa Ông vào thành phố.

Ngay ngày hôm sau tôi nhờ các Phường Quận tìm dùm một miếng đất cho Ông Long cất nhà. Các nơi tìm được khá nhiều nhưng tôi chọn ra 4 chỗ. Tôi lái xe đưa Ông đi xem. Cả 4 chỗ Ông không chê nhưng ngần ngại không quyết định, viện dẫn nhiều lý do nghe cũng được. Chuyện không thể chậm trễ, tôi nói ngay: hay là Ông vô ở chung với tôi. Ông cười khẩy, tưởng tôi bực mình nói lời mỉa mai. Sự thực khi nói câu đó, tôi nghĩ đến khu đất trống sau tư dinh dành cho gia đình Chỉ Huy Trưởng số 37 Nguyễn Thị Giang, ngay trung tâm thành phố, sát tường rào Trường Nam Tiểu Học, có thể mở lối đi riêng. Tôi chỉ cho Ông. Ông chịu liền nhưng còn bán tín bán nghi. Ðể xác nhận không phải chuyện bông đùa, tôi đưa Ông tới một trại cây đường Phan đình Phùng, nói với bà chủ chọn cho Ông một số cây ván thứ tốt, hoá đơn gởi cho tôi. Tới đây Ông mới tin là chuyện thật và bắt tay tôi vui vẻ, nói lời cám ơn.

Không chờ đợi lâu, Ông cho tháo căn nhà từ Ngọc Quang, cha con chồng vợ cả gần chục người hớn hở dựng căn nhà mới. Chỉ trong vòng chừng 2 tuần là xong, điện nước từ nhà tôi câu qua. Gia đình Ông Long vui vẻ đã đành, phần tôi cũng vui không ít.

Những ngày tiếp theo, tôi chờ hoài không thấy trại gỗ đưa hóa đơn tới, hỏi ra mới biết: thấy tôi tận tâm, nể mất lòng, Ông chỉ lấy một ít ván gắn vào mặt tiền coi cho được còn bao nhiêu Ông mua các thứ tạp nhạp từ một bãi phế thải ở đường Ông Ích Khiêm chở mấy xe Ba Gác về, đóng phía trong phía ngoài khá tươm tất. Một lần nữa tôi cảm phục tính lương thiện và sòng phẳng của Ông. Dọn vào nhà mới xong, ít lâu sau Ông thăng Trung Tá và được bổ nhiệm Chánh Sở Tư Pháp, tiếp tục phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Vùng. Từ đây Ông yên tâm ở bên cạnh nhà tôi và tôi cũng có cơ hội làm một chút quan sát:

Nhà Ông rất đông con. Một vợ một chồng, sinh 12 lần, nuôi 13 đứa, có cả cặp sinh đôi sau cùng, một trai một gái. Ông còn cưu mang thêm một đứa cháu mồ côi, anh nó đi lính tận trên Pleiku, giao luôn cho Ông giữ. Chưa hết. Nhà còn có thêm một con heo con. Bà Long nói phải nuôi thêm con heo làm lợi, cho đứa cháu mồ côi thêm tiền ăn học. Chuyện nhà Ông Long nuôi heo nhiều người không tin, đòi đến coi. Làm gì giữa thành phố, ngay cạnh tư dinh Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát mà lai có người dám nuôi heo. Ai nói gì thì nói, hiểu rõ hoàn cảnh gia-đình, cùng cái lý do chân thật và tội nghiệp đối với Bà Long, tôi không phản đối. Mấy đứa con nhỏ của tôi cũng rất ưa thích con heo. Ði học về, tụi nhỏ chạy sang xem, cho heo ăn, trầm trồ khen heo sạch sẽ và mau lớn. Thấy các con ưa thích, tôi cũng vui. Bà Long lại càng vui hơn.

Ông Long dạy con rất nghiêm nhưng không hề ồn ào to tiếng. Ông ưa nói chuyện gương trung liệt người xưa và lấy chuyện sách đèn của các con làm trọng. Ông thường dặn con: dù hoàn cảnh nào cũng ráng kiếm cho được ba mớ chữ. Câu Ông thưòng nhắc đi nhắc lại với các con là: Khi nào cái đầu cũng ở trên. Cái đầu phải có kiến-thức để điều khiển toàn thân làm những việc khá hơn là việc tay chân lao động.

Những lúc rảnh rỗi nhà tôi hay sang chơi, khen mấy cháu học giỏi và thường dấm dúi cho các em chút đỉnh tiền để khi thì mua cái cặp sách, khi thì mua bộ áo quần. Ðặc biệt đứa cháu mồ côi là nhà tôi thương nhất. Ông Long có mấy con đã trưởng thành. Hai anh đi không quân, một thiết giáp, ba Cảnh Sát. Đứa đầu lòng tên Phụng, Sĩ Quan Biệt Ðộng Quân, tử trận. Thỉnh thoảng các cháu về phép, nhà tôi thường dặn dò phải cận thận giữ mình, đôi khi còn có chút ít tiền cho các cháu cà phê. Những cử chỉ thương yêu nhẹ nhàng kín đáo như thế chỉ có các con và Bà Long biết, Ông Long thì không. Qua tôi, nhà tôi đã hiểu tính Ông Long rất tự ái và không ưa nhờ vả ai, dù là từ những người thân.

Trong năm năm sống cạnh nhau, Ông Long chỉ sang nhà tôi có một lần, đi chung với Ông Võ Hoàng, anh Ông Giám Ðốc Võ Lương. Lúc ấy tôi vừa cho thêm một người bạn khác, Ông Huỳnh Giáo cựu Trưởng Ty Công-An Quảng Tín làm căn nhà đằng sau , phía bên phải. Nhà Ông Long bên trái. Ông Võ Hoàng là một nhà phong thủy cho biết hai căn nhà phía sau Tư dinh là một phối trí phong thủy tuyệt hảo, che chắn hết mọi bất trắc, rủi ro, không sợ đao kiếm cùng kẻ xấu chém lén sau lưng. Ông Chỉ Huy Trưởng sẽ yên vị tại chức lâu dài. Tôi không biết nhiều về phong thủy, cũng không hẳn tin. Tôi chỉ muốn làm một việc tử tế khi có cơ hội để giúp cho hai người bạn mà tôi rất thương yêu và mến phục.

Sống bên nhà tôi lâu như thế mà gia-đình Ông Long không bao giờ xin ân huệ cho mình cũng như cho bất cứ ai. Họ sống lặng lẽ, âm thầm gần như cam chịu. Bà Long thường nói đây là căn nhà vừa ý nhất từ trước đến nay và ao ước được ở đây mãi mãi.. Niềm ao ước bình thường giản dị ấy không được bao lâu thì Ðà-Nẵng thất thủ, cuối tháng ba 75. Tai trời ách nước đổ sập xuống, chúng tôi tan tác mỗi người một nơi.

Tôi thoát đi được trong gang tấc, theo một tàu Mỹ vào Cam Ranh. Tại đây dùng tàu đò dân-sự vào Vũng Tàu. Khi vừa mới từ bờ ra lại biển khơi, tôi gặp Ông Long đi trên một ghe đánh cá từ Ðà-Nẵng vào. Tôi đổi tàu cùng Ông xuôi Nam. Về đến Saì-Gòn chia tay mỗi người một ngã. Tôi tìm cách cùng gia đình thoát thân lần nữa. Qua tới Guam được mấy ngày thì được tin Long tự sát. Tôi bàng hoàng xúc động, thương Ông suốt một đời lận đận và kết thúc tức tưởi thế kia. Từ đó tôi bị thúc bách và tự cho như có bổn phận phải tìm thêm tin tức của Long:

Ở Mỹ, tôi theo dõi các báo lớn ngoại quốc có đăng trang bìa hình Long tự sát trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến khu tiền đình Trụ Sở Quốc Hội, sắc phục và cấp bậc Sĩ Quan Cảnh Sát ngay ngắn đàng hoàng, nhưng không có báo nào nói xác Long ai đem đi đâu. Tôi cứ nghĩ thi thể vô thừa nhận đã bị vùi dập ở một xó xỉnh nào.

Nhưng không. Khoảng hơn hai tuần sau, Bà Long nhận đươc giấy báo vào nhà thương Grall nhận xác. Nguyên do là khi tuẫn tiết, trong túi áo Long có thẻ căn cước địa chỉ 37 Nguyễn Thị Giang, Ðà-Nẵng. Nhà thương cứ theo địa chỉ đó mà báo tin. Tôi nhớ là cái căn cước bọc nhựa ấy tôi đổi lại cho Long khi vừa mới dọn vào ở chung, đặc biệt có chữ ký của tôi làm kỷ niệm, không phải chữ ký của Thiếu Tá Chỉ Huy Phó như những căn cước khác. Tự nhiên tôi có chút suy nghĩ sao mà cái việc nhỏ nhặt như việc đổi cái thẻ căn cước bọc nhựa năm xưa lại đưa đến một sự việc quá quan trọng như thế. Cái căn cước có chữ ký của tôi đó không phải vì nhu-cầu mà chỉ vì chút cảm tình, nhưng lại chính nhờ nó mà gia-đình nhận đươc xác của Long. Ðây có phải chỉ là một diễn tiến tình cờ hay là một tính toán cẩn thận của Long. Giả thuyết thứ hai hợp lý hơn.

Ðà-nẵng mất mau quá, Long chưa kịp lãnh lương tháng ba nên nhà không có tiền vào Sàigon. Tội nghiệp chỉ có cô Tâm, con thứ ba vào nhận xác. Tới SàiGòn ngày 17 tháng 5 cô Tâm cùng với một người chị thứ hai tên Ðào và người em gái tên Thuận đang làm việc ở Sai-Gòn tới nhà thương Grall. Tại dây nhân viên Bệnh Viện, như có được lệnh của Ban Giám Ðốc, đã dành mọi dễ dàng, chỉ vẽ tận tâm chu đáo và tỏ ra có thiện cảm đặc biệt với người chết. Họ tắm rửa, thoa thuốc, uốn nắn và chăm sóc thi thể nhẹ nhàng tử tế đến độ làm các con cảm-động và ngạc nhiên. Ngày chôn cất có ban hậu sự Nhà Thương sắc phục và xe tang đàng hoàng, khoan thai đưa tiễn tới Nghĩa Trang. Tất cả đều hoàn toàn miễn phí. Thi hài được mai táng tại Nghĩa Trang Giáo Xứ Công Giáo Bà Quẹo với đầy đủ lễ nghi tôn giáo. Có Linh-Mục đến làm phép xác. Rõ ràng là cái chết công khai và lẩm liệt của một Anh Hùng vị Quốc vong thân, ngay lập tức đã có người trân trọng. Ít năm sau gia đình cải táng. Lần này thì khăn tang trắng một vùng, đầy đủ vợ và các con, các cháu, xác được hỏa thiêu. Tro ký thác tại Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sài-Gòn, đường Kỳ Ðồng.

x
x x

Ngày mất nước 30 tháng 4 năm 75, khi biết mọi sự đã hỏng hết, nhiều Tướng Lãnh, Sĩ Quan, Binh Lính, Cảnh Sát và cả nhân- viên Dân Chính đã tự sát tại nhiều nơi và bằng nhiều cách, cách nào cũng nói lên chí khí bất khuất không đầu hàng, không để cho thân rơi vào tay giặc. Nhưng cái chết của Trung Tá Nguyễn văn Long mới được cả thế giới biết đến mau nhất, gây xúc động mạnh nhất. Long đã chọn cách thế, giờ giấc cho cái chết có mục đích tại một địa điểm không thể có nơi nào thích hợp hơn. Trước Tòa Nhà Quốc Hội, dưới chân Tượng Ðài Chiến Sĩ là nơi biểu tương Trái Tim đang thoi thóp của Miền Nam. Ông đã nằm xuống đó để chấm dứt nhịp đập trái tim Ông. Ông dâng hiến máu tươi và mạch sống cho Tổ Quốc. Khỏi cần phải luận bàn dông dài, cả thế giới cùng công nhận Long đã bình tĩnh sửa soạn cho cái chết từng chi-tiết. Long mặc sắc phục, cấp bậc chỉnh tề, thẻ căn cước cài trong túi áo. Trước lúc bắn vào đầu, Long đứng nghiêm, chào kính Tượng Ðài rồi khoan thai nằm xuống. Chỉ một phát súng dứt khoát và chính xác, Long anh dũng đền ơn nước.

Ðã một thời sống gần và làm việc chung, tôi thương mến Long lúc sinh thời, kính phục Long khi đã chết và sẽ mãi mãi nhớ Long. Cái chết của Long là một cái chết bất tử.